Chiến lược 2030 của ADB: Linh hoạt, thích ứng để phù hợp

08:31 | 06/03/2019

Toàn cầu đối diện những thách thức lớn như tình trạng bất bình đẳng gia tăng, nghèo khổ và dễ tổn thương vẫn còn, biến đổi khí hậu (BĐKH) và môi trường ngày càng trầm trọng, đô thị hóa nhanh, thay đổi mạnh mẽ về nhân khẩu học… 

Xúc tiến đẩy nhanh phát triển cơ sở hạ tầng GMS

Tiếp tục cung cấp nguồn tài trợ dài hạn lớn

Bối cảnh trên đòi hỏi ADB cần thích ứng mau lẹ để tiếp tục phù hợp với sự phát triển đang thay đổi nhanh chóng. Sự thích ứng đó một mặt cần hài hòa với các mục tiêu toàn cầu, mặt khác cần đáp ứng được với sự đa dạng và nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu về các nguồn tài chính ở các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC).

Tại Hội thảo Phổ biến Chiến lược phát triển đến năm 2030 và các sản phẩm, phương thức tài trợ mới của ADB do NHNN phối hợp với ADB tổ chức ngày 4/3/2019, ông Tomoyuki Kimura - Tổng Vụ trưởng Vụ Chiến lược và Chính sách, ADB cho biết: Trong Chiến lược 2030, ADB sẽ duy trì các nỗ lực của mình để xóa nghèo cùng cực và mở rộng tầm nhìn tới một khu vực châu Á - Thái Bình Dương thịnh vượng, đồng đều, thích ứng và bền vững. ADB sẽ giúp khu vực này thịnh vượng bằng cách duy trì tăng trưởng kinh tế có chất lượng và tạo ra cơ hội việc làm và thúc đẩy sự đồng đều để bảo đảm rằng các thành quả kinh tế được chia sẻ rộng rãi, cũng như sẽ hỗ trợ tính thích ứng và bền vững của các quốc gia và thúc đẩy hợp tác hội nhập khu vực.

Trong chiến lược mới này, ADB sẽ tiếp tục ưu tiên hỗ trợ cho các quốc gia nghèo nhất và dễ tổn thương nhất của khu vực, đồng thời áp dụng những cách tiếp cận khác biệt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhóm quốc gia khác nhau như các quốc gia bị ảnh hưởng bởi xung đột và dễ đổ vỡ; các quốc đảo nhỏ đang phát triển; các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, và các quốc gia thu nhập trung bình cao.

Với nhóm các quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp (trong đó có Việt Nam), ADB nhìn nhận đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức trên phạm vi rộng trong việc duy trì và thúc đẩy tiến độ tăng trưởng. Với nhóm này ADB sẽ cung cấp nguồn tài trợ dài hạn đáng kể và có thể dự báo để hỗ trợ các quốc gia này; đồng thời sẽ tiếp tục là một đối tác tin cậy trong việc hỗ trợ cải cách cơ cấu và hệ thống.

“Trọng tâm hỗ trợ sẽ bao gồm cơ sở hạ tầng xanh và đồng đều, các dịch vụ xã hội và an sinh xã hội, đô thị hóa bền vững, chuyển đổi cơ cấu để tăng cường năng suất và tính cạnh tranh, cải cách khu vực công, phát triển khu vực tư nhân, và huy động nguồn lực trong nước”, ông Tomoyuki Kimura cho biết. ADB cũng sẽ hỗ trợ cải cách các DNNN và gia tăng hoạt động ở khu vực tư nhân bằng cách thu hút các nhà đầu tư tư nhân và mang đến các nhà đồng tài trợ thương mại.

Sẽ phù hợp với khung chính sách của Việt Nam

Với các nước tốt nghiệp vay vốn từ nguồn vốn ưu đãi theo chính sách tốt nghiệp của ADB thì trong giai đoạn chuyển tiếp, hỗ trợ của ADB sẽ tập trung chủ yếu vào tăng cường các chính sách và thể chế cần thiết cho việc tốt nghiệp bền vững, hỗ trợ hàng hóa công cộng khu vực và toàn cầu, góp phần tạo ra tri thức. Những ưu tiên này sẽ được phản ánh cụ thể trong Chiến lược Đối tác Quốc gia (CPS) giữa ADB với mỗi quốc gia thành viên.

Để hỗ trợ cho Chiến lược 2030, việc đưa ra các sản phẩm, phương thức tài trợ mới là rất cần thiết. Giới thiệu cụ thể các sản phẩm, phương thức tài trợ mới, ông Keiju Mitsuhashi - chuyên gia cao cấp về Chính sách và Kế hoạch của ADB cho biết, nhằm tăng tính linh hoạt và thích ứng trong đáp ứng các nhu cầu tài chính của các quốc gia thành viên, ADB cung cấp 2 sản phẩm: Tài trợ chuẩn bị dự án và Quỹ tài trợ cho chi tiêu nhỏ. Để tăng cường vai trò xúc tác của ADB trong việc huy động nguồn tài chính tư nhân, ADB cung cấp các phương thức và sản phẩm bao gồm: Bảo lãnh dựa trên chính sách; Bảo lãnh tại các quốc gia Nhóm A; và Khuyến khích sử dụng các sản phẩm nâng cao chất lượng tín dụng.

Đồng thời, để mở rộng sang hỗ trợ, đảm bảo tài chính cho các dự án hợp tác công - tư (PPP), ADB cung cấp sản phẩm Quỹ tài chính dự phòng cho PPP. Ngoài ra, hiện ADB cũng đang phát triển sản phẩm Tài trợ dự phòng cho thiên tai.

Hiện ADB đang tiếp tục cùng các nước thành viên thảo luận để đảm bảo các công cụ này phù hợp và nhất quán với khung chính sách và cơ chế của các quốc gia. “Nếu Việt Nam có đề nghị sử dụng một hay một số công cụ cụ thể trong số đó thì ADB và Việt Nam sẽ tiếp tục làm rõ thêm, như làm thế nào để có thể thống nhất giữa các công cụ đó với các cơ chế chính sách của Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe các yêu cầu, đề xuất cụ thể từ phía Việt Nam và sẽ cố gắng để có thể đảm bảo linh hoạt nhất sao cho phù hợp với khung chính sách của Việt Nam cũng như đảm bảo hữu ích và hiệu quả trong bối cảnh của Việt Nam”, ông Tomoyuki Kimura nói.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng: Chiến lược phát triển phù hợp với các định hướng ưu tiên của Việt Nam

Chiến lược 2030 của ADB được xây dựng để đáp ứng các nhu cầu đang thay đổi của khu vực với tầm nhìn hướng tới một châu Á - Thái Bình Dương thịnh vượng, đồng đều, thích ứng và bền vững. Các ưu tiên hoạt động trong Chiến lược 2030 của ADB về cơ bản phù hợp với các định hướng ưu tiên của Việt Nam trong thời gian tới.

Trong quá trình xây dựng, NHNN với tư cách là đại diện của Việt Nam tại ADB đã làm đầu mối, tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan trong nước tham gia xây dựng, nghiên cứu, đóng góp ý kiến đối với chiến lược này. Chúng tôi đánh giá cao ADB đã tiếp thu các ý kiến góp ý của Việt Nam, các thành viên và các bên liên quan để hoàn thiện văn kiện quan trọng này.

Bên cạnh định hướng hoạt động phát triển, ADB chủ trương tập trung phát triển và xây dựng các sản phẩm, phương thức tài chính mới nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của các quốc gia thành viên. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp và chính thức tốt nghiệp vay vốn từ nguồn vốn ưu đãi từ các tổ chức tài chính quốc tế, trong đó có ADB. Việc hiểu rõ các sản phẩm, phương thức tài trợ mới là cần thiết để hỗ trợ các bên liên quan thu hút các nguồn lực phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.637 22.857 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200