Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2025: Dư địa rộng hơn, song thách thức không ít đi

08:53 | 05/04/2021

Những thành tựu, kết quả đạt được của nhiệm kỳ vừa qua một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm kỳ tới, mặt khác cũng đặt ra những thách thức đòi hỏi những nỗ lực cao hơn, quyết liệt hơn.

Việt Nam trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới

Nhiệm kỳ 2016-2021 là một nhiệm kỳ rất thành công trên tất cả các phương diện. Đó là ghi nhận của các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 11 - kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XIV về 5 năm qua của nhiệm kỳ 2016-2021. Việt Nam đã vào nhóm 10 quốc gia có mức tăng trưởng GDP cao nhất thế giới, kinh tế vĩ mô luôn được duy trì ổn định, quy mô nền kinh tế vượt qua Singapore, Malaysia và vươn lên đứng thứ 4 trong khu vực và nằm trong Top của 40 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới...

Theo các đại biểu, những thành tựu, kết quả đạt được của nhiệm kỳ vừa qua một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm kỳ tới, mặt khác cũng đặt ra những thách thức đòi hỏi những nỗ lực cao hơn, quyết liệt hơn.

Theo đại biểu Hoàng Văn Cường (Hà Nội), thành công của Chính phủ tiền nhiệm trong việc kiểm soát nợ xấu ngân hàng (từ mức báo động cao, gấp 6 lần giới hạn đã giảm xuống dưới mức an toàn 3%, trong bối cảnh lãi suất điều hành giảm); nợ công giảm sâu (từ mức sát trần 65% xuống 55,3% GDP)… là những điều kiện và dư địa thuận lợi cho điều hành của Chính phủ nhiệm kỳ tới. Bên cạnh đó, cán cân thương mại từ nhập siêu chuyển sang xuất siêu gần 20 tỷ USD; mức dự trữ ngoại hối được nâng lên gần 100 tỷ USD cũng là những cơ sở quan trọng để ổn định tỷ giá, điều hành tiền tệ và đảm bảo các quan hệ thanh toán quốc tế trong tương lai.

chinh phu nhiem ky 2021 2025 du dia rong hon song thach thuc khong it di
Xuất khẩu tăng trưởng mạnh đã góp phần giúp cán cân thương mại thặng dư lớn

Hay việc Chính phủ đã rất thành công trong việc cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh (MTKD) như cắt giảm tới 63% điều kiện kinh doanh, 68% các danh mục, dòng hàng kiểm tra chuyên ngành… qua đó giúp MTKD tăng lên 2 bậc, năng lực cạnh tranh toàn cầu tăng lên 10 bậc. Thành công này của Chính phủ tiền nhiệm lại đặt ra một thách thức vô cùng lớn cho nhiệm kỳ tới phải tiếp tục cải thiện MTKD với những đột phá thể chế bằng việc thay đổi hoàn toàn phương thức quản lý. Phải chuyển cơ chế, đối tượng quản lý từ xin phép khai báo trước với cơ quan quản lý sang cơ chế đối tượng quản lý tự lựa chọn quyết định, tự công khai thông tin, cơ quan quản lý từ nhiệm vụ tiếp nhận thông tin và tiền kiểm sang nhiệm vụ tìm kiếm, thu thập thông tin và thực hiện hậu kiểm.

“Phương thức quản lý này chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở chuyển đổi số toàn bộ thông tin và quy trình quản lý, đây phải là khâu đột phá tiên phong trong chương trình chuyển đổi số quốc gia”, đại biểu Hoàng Văn Cường nêu quan điểm.

Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 5,99%, dù cao hơn mức 5,91% của giai đoạn 2011 – 2015, nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch đặt ra (tăng trưởng 6,5% - 7%/năm) mà nguyên nhân là do còn có những yếu kém, hạn chế vẫn tồn tại dai dẳng chưa được giải quyết, cộng thêm tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19. Đặc biệt phải kể tới những yếu tố như việc thực hiện 3 trọng tâm cơ cấu lại nền kinh tế chưa như kỳ vọng; việc sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa đạt mục tiêu; một số chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đi vào cuộc sống; bộ máy chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả… Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội, những vấn đề trên cần được tập trung giải quyết sớm ngay từ đầu nhiệm kỳ tới thì mới có cơ sở để kỳ vọng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt và vượt kế hoạch đặt ra.

Xóa bỏ tư duy theo lối mòn

Bên cạnh những kết quả đạt được, Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016-2021 của Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận về những tồn tại, hạn chế, trong đó chỉ rõ nguyên nhân chính vẫn là do con người. Vấn đề con người, tổ chức và vận hành bộ máy vì vậy cũng là một trong những nội dung được nhiều đại biểu tập trung phân tích nhất với mong muốn làm rõ những bất cập, hạn chế để từ đó bộ máy vận hành trơn tru hơn trong nhiệm kỳ mới.

Đại biểu Phạm Thị Minh Hiền (Phú Yên) cho rằng, việc Chính phủ đã thẳng thắn nhìn nhận con người là nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế như vậy cho thấy Chính phủ đã bắt rất đúng bệnh. Việc tiếp theo là điều trị bệnh, chứ không chỉ dừng lại ở thăm khám, kê đơn, hay chỉ điều trị triệu chứng mà không điều trị nguyên nhân. “Tôi rất mong Chính phủ và các bộ, ngành cần dành nhiều thời gian để rà soát, đánh giá thực trạng chính sách thu hút nhân tài, sử dụng nhân lực… của mình có thực chất, có hiệu quả hay không”, vị đại biểu Phú Yên nói.

Vấn đề con người cũng rất gắn với tư duy và quá trình xây dựng các chính sách. Lo ngại nhất của vị đại biểu này là nguy cơ mắc lỗi tư duy theo lối mòn. “Khi tư duy bị thu hẹp theo lối mòn, cái tôi sẽ “phình” ra, đó là một trong những nguyên nhân của không ít nhóm chính sách khi ban hành thiếu sự liên kết, tích hợp, thiếu tính thực tiễn, thậm chí là ngắn hạn và mang tính đối phó. Những cách làm chính sách như thế hiện nay đang tồn tại rất nhiều trong bộ máy của chúng ta, đó là một sự thật”, nữ đại biểu phân tích thẳng thắn. Từ đó, đại biểu Hiền rất mong Chính phủ cần cương quyết xóa bỏ những lối mòn về tư duy trong điều hành, quản lý, bởi “muốn kiến tạo tương lai thì không thể ẩn mình an toàn trong các lỗ hổng chính sách đã cũ, đã hỏng và không còn phù hợp”.

Trong khi đó theo đại biểu Lê Thanh Vân (Cà Mau), chúng ta đã cải cách bộ máy hành chính rất nhiều lần nhưng chưa lần nào có kết quả rõ nét. “Nếu như không tổ chức lại bộ máy Chính phủ trong điều kiện công nghệ phát triển thì chúng ta sẽ phải tăng chi phí nguồn lực cho bộ máy rất lớn và không có dư địa để tích lũy cho đầu tư phát triển. Cho nên, nhiệm kỳ tới cần coi tổ chức bộ máy là khâu đột phá thứ nhất, khâu đột phá kế tiếp là nhân sự và chất lượng nguồn nhân lực”, đại biểu phân tích và khuyến nghị.

Còn theo đại biểu Nguyễn Thị Mai Hoa (Đồng Tháp), Chính phủ nhiệm kỳ mới cần phải tập trung xây dựng một bộ máy công quyền công tâm, khách quan, có trách nhiệm giải trình cao và không bị chi phối bởi lợi ích nhóm. Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới tất cả các khâu trong công tác cán bộ và chế độ công chức. “Phải xây dựng được một chế độ liêm chính, công vụ. Đạo đức công vụ không phải chỉ trên lý thuyết mà phải bằng thực tiễn. Đặc biệt là vấn đề thu hút nhân tài. Cần có môi trường để người tài được thu hút, được trọng dụng, được làm việc và được ứng xử một cách tôn trọng”, nữ đại biểu đề xuất.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150