Chuyển dịch cơ cấu năng lượng để phát triển bền vững

08:09 | 18/10/2021

Nhằm chuyển dịch từ sử dụng các năng lượng sơ cấp (than, dầu) sang các dạng năng lượng sạch hơn, ông Phạm Nguyên Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương đề xuất, cần khống chế tỷ lệ điện mặt trời ở mức chấp nhận được (khoảng 20% công suất hệ thống), kết hợp với việc phát triển các nguồn linh hoạt như thủy điện tích năng, nguồn động cơ đốt trong và nâng cao khả năng điều khiển hệ thống điện cho các trung tâm điều độ.

Việt Nam được đánh giá là một trong 6 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi biến đổi khí hậu, theo báo cáo về chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2020. Những năm qua, Việt Nam đã luôn tích cực trong thực hiện các cam kết của Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững và tích cực tham gia Thỏa thuận chung Paris trong khuôn khổ Công ước chung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP 21). Một trong những yêu cầu quan trọng Việt Nam cần thực hiện khi tham gia là thúc đẩy chuyển dịch năng lượng mạnh mẽ để giảm phát thải khí nhà kính, các chính sách và quyết định đầu tư phải huwongs tới khử carbon trong lĩnh vực năng lượng. Bên cạnh đó, việc thực hiện các FTA thế hệ mới cũng đặt ra các yêu cầu phải thúc đẩy chuyển dịch năng lượng.

chuyen dich co cau nang luong de phat trien ben vung
Ảnh minh họa

Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho biết, Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị đã đề ra quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ thể để thúc đẩy chuyển dịch năng lượng bền vững, như ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch với mục tiêu tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 - 20% vào năm 2030; 25 - 30% vào năm 2045. Ưu tiên phát triển điện khí, có lộ trình giảm tỷ trọng điện than một cách hợp lý. Nhanh chóng xây dựng thị trường năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, minh bạch, đa dạng hoá hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh… Đồng thời, xác định chuyển dịch không chỉ là của ngành năng lượng mà phải gắn với cơ cấu lại các ngành và khu vực tiêu thụ năng lượng.

Bà Vũ Chi Mai, Trưởng hợp phần năng lượng tái tạo -Tổ chức Phát triển Đức GIZ cho rằng, chuyển dịch năng lượng không phải loại trừ những gì đang có mà chuyển đổi dần từ trạng thái năng lượng sơ cấp có thể cạn kiệt sang dạng năng lượng sạch hơn, với tỷ lệ lớn hơn nhằm đảm bảo đủ điện và yêu cầu của biến đổi khí hậu.

Có 3 đòn bẩy chính sách quan trọng, dẫn dắt chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam, đó là thúc đẩy phát triển năng lượng sạch, giảm sâu phát thải CO2 và phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng. Nhằm khuyến khích năng lượng sạch, thay vì việc đưa ra giá ưu đãi cố định (FIT) từ Nam tới Bắc, có thể thực hiện giá FIT theo vùng, địa phương, theo công suất lắp đặt. Với những vùng miền sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm thiểu truyền tải điện, tăng thu nhập người dân nên có cơ chế khuyến khích phát triển điện sạch tại chỗ.

Thêm nữa, thời gian tới, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng phải đáp ứng các yêu cầu của châu Âu và các nước về giảm phát thải. Do vậy, việc giảm sâu CO2 cho từng sản phẩm cần được lưu ý. Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ phát triển dài hơi hơn, mục tiêu rõ ràng và cân đối giữa các ngành năng lượng khác nhau, bà Chi Mai cho biết thêm.

Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển năng lượng tái tạo, như phát triển điện mặt trời nổi trên các công trình thủy điện để tận dụng diện tích nhà máy, đường dây truyền tải từ các dự án thủy điện. Nguồn năng lượng tái tạo đã góp phần giảm đáng kể điện chạy dầu giá cao, hỗ trợ tích cực cung cấp nguồn điện cho miền Bắc có phụ tải tăng cao (như thời gian tháng 5 – 6/2021). Tuy nhiên, những thách thức cũng đã được nhìn nhận, vì chưa có sự chuẩn bị hài hòa giữa chính sách với nhu cầu đầu tư lớn vào ngành.

Nhằm chuyển dịch từ sử dụng các năng lượng sơ cấp (than, dầu) sang các dạng năng lượng sạch hơn, ông Phạm Nguyên Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo - Bộ Công thương đề xuất, cần khống chế tỷ lệ điện mặt trời ở mức chấp nhận được (khoảng 20% công suất hệ thống), kết hợp với việc phát triển các nguồn linh hoạt như thủy điện tích năng, nguồn động cơ đốt trong và nâng cao khả năng điều khiển hệ thống điện cho các trung tâm điều độ.

Ưu tiên hơn phát triển điện mặt trời mái nhà, với quy định tỷ lệ điện tự sử dụng tại chỗ (có thể là khoảng 80% tự sử dụng, 20% sản lượng thừa cho phép bán ra hoặc một tỷ lệ hợp lý khác). Đồng thời, xây dựng chính sách hợp lý cho các dự án lưu trữ năng lượng theo hướng khuyến khích chủ đầu tư các dự án đầu tư hệ thống lưu trữ khi giá thành hệ lưu trữ phù hợp.

Hữu An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750