CIEM đề xuất 3 kịch bản cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2023

16:34 | 22/04/2021

Ba kịch bản cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã được Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra tại Hội thảo công bố Báo cáo "Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch Covid-19: Đề xuất cho Việt Nam" ngày 22/4 tại Hà Nội. Theo đó, trong kịch bản lạc quan nhất, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ lên tới 6,76%, lạm phát 3,63%.     

Báo cáo được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Chương trình Australia Hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam.

Triển vọng lạc quan

Theo Báo cáo, đại dịch Covid-19 bùng phát đã làm trầm trọng thêm những rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, đồng thời buộc các nền kinh tế phải đẩy nhanh những cải cách thể chế, gắn với tiếp cận Cách mạng Công nghiệp 4.0 và kinh tế số.

ciem de xuat 3 kich ban cho tang truong kinh te viet nam giai doan 2021 2023

Tại Việt Nam, Chính phủ đã phản ứng quyết liệt và khá sớm với các đợt bùng phát của đại dịch Covid-19 và được đánh giá là tương đối thành công trong kiểm soát dịch bệnh.

Trong quý I/2021, các hoạt động kinh tế-xã hội tiếp tục đà phục hồi. Hoạt động tiêm vaccine đã dần được triển khai, nhiều cuộc thảo luận xoay quanh mở lại các đường bay quốc tế, “hộ chiếu vaccine”… được đề cập gần đây nhằm hướng đến mở cửa trở lại nền kinh tế một cách an toàn, đồng bộ và bền vững.

Trong bối cảnh đại dịch, Việt Nam duy trì có tốc độ tăng GDP đạt 2,91% trong năm 2020 và phục hồi ở mức 4,48% trong quý I. Với kết quả này, các tổ chức quốc tế đều duy trì đánh giá tích cực về kinh tế Việt Nam, cao hơn so với hầu hết các nền kinh tế trên thế giới và khu vực Đông Á.

TS. Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng CIEM nhận định, các cải cách về môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp... tiếp tục có sự liền mạch với các năm trước. Các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế mới tiếp tục được nghiên cứu, cân nhắc, bên cạnh việc rà soát, điều chỉnh quy định liên quan đến tiếp cận một số gói hỗ trợ trước đó (về tín dụng, thuế, an sinh xã hội…).

Theo TS. Trần Thị Hồng Minh, với việc tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh trong những tháng đầu năm 2021, các hoạt động kinh tế-xã hội trong cả nước tiếp tục đà phục hồi.

Ngay trong bối cảnh đại dịch, Việt Nam vẫn chứng kiến những diễn biến khá sôi động về hội nhập kinh tế quốc tế như phê chuẩn và thực thi Hiệp định Thương mại Tự do giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) hay ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Song song với đó, Việt Nam cũng ghi dấu trong các hoạt động đối ngoại như vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA 41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, Viện trưởng CIEM cũng cảnh báo rằng, mặc dù được đánh giá là một trong số ít các quốc gia thành công trong kiểm soát đại dịch Covid-19, tạo tiền đề cho phục hồi và thúc đẩy sản xuất trong nước, tái mở cửa kinh tế an toàn, nhưng Việt Nam cũng cần xây dựng một kế hoạch dài hơi hơn.

Ba kịch bản

Theo CIEM, triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2023 được đánh giá dựa trên 3 kịch bản gồm kịch bản bình thường; kịch bản trong bối cảnh nới lỏng tài khóa và tiền tệ; kịch bản nếu có biện pháp nới lỏng tài khóa và tiền tệ, cùng với cải cách thể chế.

ciem de xuat 3 kich ban cho tang truong kinh te viet nam giai doan 2021 2023
Ba kịch bản tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2023 của CIEM

Ở kịch bản 1: (Bình thường): Tăng trưởng xuất khẩu 5,08%. Tốc độ tăng năng suất lao động 5,44%, đầu tư/GDP là 34,79% và tốc độ tăng GDP 6,35%,lạm phát 3,30%.

Kịch bản 2: (Trong điều kiện nới lỏng tài khoá và tiền tệ): Tăng trưởng xuất khẩu 5,76%. Tốc độ tăng năng suất 5,73%, đầu tư/GDP 35,46% và tốc độ tăng GDP là 6,69%, lạm phát 4,04%.

Kịch bản 3: (Trong điều kiện nới lỏng tài khoá và tiền tệ đi kèm với cải cách thể chế): Tăng trưởng xuất khẩu 6,15%. Tốc độ tăng năng suất lao động 5,85%. Đầu tư tăng 35,14% và lúc này tăng trưởng GDP sẽ lên tới 6,76%, lạm phát 3,63%. 

CIEM cho hay, nếu chỉ nới lỏng tài khoá và tiền tệ, tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn, song đi kèm với áp lực lạm phát lớn hơn. Còn nếu nới lỏng tài khoá và tiền tệ đúng trọng tâm, đúng thời điểm, song hành với đột phá trong chất lượng cải cách thể chế, tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn và đi kèm với cải thiện đáng kể về năng suất.

Đây cũng là cách để phục hồi tăng trưởng nhanh và bền vững hơn, ngay cả khi kinh tế thế giới còn nhiều bất định.

Báo cáo nhấn mạnh thông điệp “phục hồi kinh tế cần phải song hành với cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam” với những đề xuất lộ trình chính sách cho giai đoạn 2021-2023.

Cụ thể là tiếp tục phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động, kết hợp với cải cách thể chế kinh tế trong năm 2021; kết hợp giải pháp phục hồi và cải cách thể chế kinh tế trong năm 2022; rút dần các giải pháp hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, tập trung vào cải cách thể chế kinh tế trong năm 2023.

Báo cáo cũng cho thấy, các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp vẫn được tiếp tục thực hiện, bất chấp bối cảnh dịch bệnh Covid-19 và giai đoạn này trùng với thời điểm chuyển giao nhiệm kỳ.

Lĩnh vực thành lập doanh nghiệp và tiếp cận điện năng vẫn được đánh giá cao nhất (lần lượt là 72,5% và 65,9% doanh nghiệp đánh giá có sự chuyển biến tốt hoặc rất tốt), và xếp cuối cùng là lĩnh vực phá sản (44,4% doanh nghiệp đánh giá tốt hoặc rất tốt).

Tuy nhiên, xu hướng thay đổi của các lĩnh vực tương đối trái ngược: Các lĩnh vực có điểm số thấp (phá sản, bảo vệ nhà đầu tư và xuất nhập khẩu) tăng điểm, trong khi các lĩnh vực có điểm cao (thành lập doanh nghiệp, tiếp cận điện năng) lại giảm điểm.

Đáng chú ý, cùng liên quan đến tài chính doanh nghiệp trong khi tiếp cận tín dụng năm 2020 được cảm nhận khó khăn hơn so với năm 2019, thì thủ tục thuế lại trở nên dễ dàng hơn nhiều. Xét theo địa phương, các chỉ số vẫn thể hiện tích cực hơn so với năm 2019, nhưng tốc độ cải thiện đã chậm lại.

Theo các chuyên gia, Việt Nam nên kiên trì với những cải cách dài hơi hơn để cải thiện nền tảng vĩ mô và giảm thiểu rủi ro trong tương lai. Tiếp tục phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động kết hợp với cải cách thể chế kinh tế trong năm 2021.

Những giải pháp mang tính dài hạn là chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng, gia tăng chất lượng tăng trưởng. Theo đó, nền kinh tế mới có thể duy trì sản xuất trong đại dịch, hồi phục nhanh chóng sau đại dịch và tiến tới phát triển bền vững.

Thái Hoàng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900