Cổ phiếu “vua” ở vùng giá hấp dẫn

08:36 | 31/10/2022

Bất chấp việc phải đối mặt nhiều thách thức, nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn được đánh giá tích cực.

Nhiều mã về vùng đáy hai năm

Do các ảnh hưởng từ kinh tế thế giới như căng thẳng Nga-Ukraine, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, cho đến diễn biến nhiều lãnh đạo doanh nghiệp trong nước bị khởi tố, thị trường chứng khoán đã suy giảm mạnh. Chốt phiên ngày 28/10, VN-Index đạt 1.027,36 điểm, giảm 33,7% so với thời điểm đầu năm và là chỉ số chứng khoán giảm mạnh top 4 trên thế giới.

Với diễn biến tiêu cực của thị trường chứng khoán, nhóm cổ phiếu nhà băng (hay còn được mệnh danh là cổ phiếu vua) đồng loạt suy giảm trong năm nay. Tính theo giá chốt phiên 27/10, nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn đồng loạt giảm sâu, như TCB (-55,11%), VCB (-9,24%), BID (-9,36%), CTG (-31,08%), VPB (-31,14%), VIB (-43,62%)…

co phieu vua o vung gia hap dan

Ngoài những ảnh hưởng nói chung của thị trường chứng khoán, sự sụt giảm của nhóm cổ phiếu vua còn do nhiều yếu tố nội tại. Ông Michael Kokalari, CFA Chuyên gia Kinh tế trưởng VinaCaptal nhìn nhận những lo lắng đối với ngành Ngân hàng trong ngắn hạn đến từ biên lợi nhuận mỏng, do chi phí huy động vốn cao hơn trong khi điều chỉnh lãi suất cho vay chậm hơn. Điều này một phần là do các ngân hàng “thắt lưng buộc bụng” để chia sẻ với nền kinh tế.

Theo VnDirect ưu thế về chi phí vốn thấp từ năm 2020 của các nhà băng sẽ không còn duy trì từ nửa cuối năm 2022 trở đi vì các lý do như: chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng - huy động thu hẹp lại; Fed dự kiến sẽ tăng lãi suất hơn nữa vào cuối năm 2022, đồng USD tăng giá mạnh gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất.

CTCP Chứng khoán Agribank (Agriseco) cho rằng, lợi nhuận ngành Ngân hàng trong năm 2022 và 2023 sẽ khó duy trì tăng trưởng cao như giai đoạn 2020 - 2021. Động lực tăng trưởng của nhóm bị suy giảm khi dư địa tăng trưởng tín dụng không còn nhiều và NIM chịu áp lực do lãi suất đầu vào có xu hướng tăng trong khi lãi suất cho vay khó tăng theo tương ứng.

Đáng chú ý, mảng kinh doanh trái phiếu của các ngân hàng có thể gặp trở ngại khi mặt bằng lãi suất đang tăng và giá trị các khoản đầu tư được ghi nhận theo giá trị thị trường. Hiện nay, lãi suất trái phiếu Chính phủ 10 năm đã tăng lên 5,06%. Một số ngân hàng có lợi nhuận từ kinh doanh chứng khoán năm 2021 cao như BIDV, VietinBank, ACB... có thể gặp khó khăn để duy trì tăng trưởng lợi nhuận mảng này trong năm 2022.

Số liệu cập nhật của Agriseco cho thấy tổng nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) của các ngân hàng được niêm yết tăng. việc Thông tư 14/2021/TT-NHNN về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi suất, phí, giữ nguyên nhóm nợ hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đã hết hạn vào cuối tháng 6/2022 sẽ phản ánh lên nợ xấu các ngân hàng thời gian tới, nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Tuy vậy, công ty chứng khoán này cũng lưu ý việc các nhà băng đã chủ động đẩy mạnh việc trích lập dự phòng lên mức cao kỷ lục cùng công tác quản trị rủi ro đang ngày càng được nâng cao trong hệ thống ngân hàng, khiến rủi ro nợ xấu không quá lo ngại.

Thị trường sẽ phân hóa

Bất chấp việc phải đối mặt nhiều thách thức, nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn được đánh giá tích cực. Điều đầu tiên có thể thấy là với nhịp giảm sâu trong thời gian qua.

Ông Michael Kokalari, Chuyên gia Kinh tế Trưởng VinaCapital cho rằng định giá cổ phiếu ngân hàng hiện đang ở mức rẻ với P/B trung bình 1.3x so với 19.2% ROE và P/E FY22 ở mức 9.1x so với mức tăng trưởng thu nhập dự kiến ít nhất là 30% vào năm 2022 và 20% vào năm 2023. Trong dài hạn, ông Kokalari đánh giá ngành Ngân hàng tiếp tục có sức hấp dẫn cao do tỷ suất lợi nhuận cao, chất lượng tài sản được kiểm soát tốt. Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế, do đó ngành Ngân hàng chưa đến giai đoạn bão hòa.

Đặc biệt, sức khỏe hệ thống ngân hàng đã được cải thiện rất nhiều, với gần 20 NHTM, chiếm đa số trong hệ thống, đã được công nhận đạt chuẩn Basel II. Hiện chưa có lộ trình cụ thể cho các NHTM triển khai Basel III, tuy nhiên, đã có một số ngân hàng tiên phong trong việc triển khai bộ tiêu chuẩn để củng cố thêm chất lượng về vốn và đặc biệt là năng lực thanh khoản.

Tuy nhiên Agriseco nhấn mạnh cơ hội sẽ không trải đều cho tất cả cổ phiếu mà sẽ có sự phân hóa. Những ngân hàng được cấp room tín dụng cao hơn so với mức trung bình toàn ngành, tăng trưởng bền vững, bộ đệm an toàn vốn và chất lượng tài sản tốt sẽ có triển vọng khả quan hơn. Bên cạnh đó, kế hoạch tăng vốn cuối năm cũng sẽ là đà thúc đẩy hỗ trợ cho giá cổ phiếu ngân hàng.

Huy Ngọc

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700