Củng cố niềm tin xã hội - Nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (Kỳ 3)
Kỳ 3. Giữ vững niềm tin xã hội của nhân dân
![]() |
| Phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN |
Trong bối cảnh thế giới rơi vào tình trạng đa khủng hoảng, kinh tế toàn cầu suy giảm và bất ổn dưới tác động của chiến tranh thương mại, xung đột vũ trang và cạnh tranh địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế gia tăng thì “Dân là gốc” và niềm tin của Nhân dân là điểm tựa bền vững nhất, “hạ tầng mềm” quan trọng nhất trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, củng cố niềm tin xã hội vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; củng cố niềm tin xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất đủ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm dẫn dắt “dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”; củng cố niềm tin xã hội vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là rất cần thiết. Trước mắt, tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, củng cố niềm tin xã hội của cán bộ, đảng viên vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm hạt nhân lan tỏa niềm tin toàn xã hội
Đảng phải tổ chức tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sâu sắc, làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản nào của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là giá trị bền vững; những luận điểm nào đã bị nhận thức sai và làm sai; những luận điểm nào không còn phù hợp nữa do bị thực tiễn, lịch sử vượt qua;…. Đồng thời, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Những luận điểm khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trở thành nền tảng tư tưởng, kim chí nam cho mọi hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chính trị để trở thành nền tảng đích thực trong tư duy, hành động của cán bộ, đảng viên trong thực tế. Qua đó, tạo sự thống nhất về tư tưởng chính trị trong Đảng và toàn xã hội.
Hai là, củng cố niềm tin xã hội vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Để củng cố niềm tin xã hội của Nhân dân vào khát vọng chủ nghĩa xã hội, bản thân Đảng phải luôn luôn phấn đấu, trưởng thành và đổi mới không ngừng, phải trở thành tấm gương tiêu biểu về nỗ lực thực hiện khát vọng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Đảng phải tiếp tục làm rõ những luận giải kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay là bước quá độ tạo cơ sở cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đòi hỏi của lịch sử Việt Nam và được dân tộc ta lựa chọn. Biện giải đầy đủ những căn cứ khoa học về sự thành công tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Đồng thời, Đảng và Nhà nước tổ chức xây dựng, phát triển đất nước hiệu quả, nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Đẩy mạnh rà soát, phân tích, đánh giá những tồn tại, hạn chế và có giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã/phường, trong đó tập trung: (i) Rà soát, đánh giá năng lực, chất lượng của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức để từng bước chuẩn hóa nguồn nhân lực và có giải pháp phù hợp (tuyển dụng, đào tạo lại, bố tri công việc, luân chuyển, sắp xếp lại lao động,...). (ii) Đánh giá khả năng triển khai, ứng dụng khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (hạ tầng công nghệ, tài nguyên dữ liệu, an toàn thông tin,…) trong hoạt động của cấp xã/phường, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. (iii) Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức (phòng, ban, đơn vị trực thuộc) của chính quyền xã/phường.
Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo của Nhân dân. Nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải là tấm gương để Nhân dân tin và làm theo. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; gắn kiểm tra, giám sát của Đảng với kiểm tra, kiểm soát, giám sát thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khuyến khích, đề cao, lan tỏa tinh thần “Dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn và dám hành động vì lợi ích chung” trong Đảng và toàn xã hội. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong theo dõi, quản lý và đánh giá kết quả công việc của cán bộ, đảng viên, là cơ sở đánh giá phẩm chất, năng lực, trình độ của cán bộ, đảng viên của Đảng để có giải pháp sử dụng lao động phù hợp.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm” [t.4, tr.166], “đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu” [t.5, tr.294], “chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại” [t.11, tr.608], mọi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nhìn thẳng vào sự thật, phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó” [t.5, tr.304]. Vì vậy, tiếp tục phát huy tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, công khai khuyết điểm, sai lầm và kỷ luật nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm theo nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", bảo đảm tính giáo dục và răn đe.
Bốn là, đẩy mạnh phát triển và khai thác có hiệu quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quản trị niềm tin xã hội
Đẩy mạnh đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ để thực hiện các khảo sát, lấy ý kiến Nhân dân về các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước có liên quan đến Nhân dân. Xây dựng, rà soát, củng cố, làm giàu, tái tạo, chuẩn hóa và bảo vệ chủ quyền tài nguyên dữ liệu của cư dân trong các mặt đời sống kinh tế - xã hội - chính trị làm cơ sở phân tích, khai phá dữ liệu phục vụ nắm bắt nhanh chóng, chính xác nguyện vọng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thành trung tâm phân tích, dự báo, định hướng và điều hành tư tưởng, dư luận xã hội cấp quốc gia để thiết lập cơ chế tương tác hai chiều giữa Đảng, Nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương với Nhân dân.
Với tinh thần “cái gì không đo được thì cũng không quản lý được; cái gì không đo được thì cũng không cải tiến được”, cần thiết xây dựng, bổ sung, hoàn thiện trên cơ sở khoa học, khách quan và ứng dụng chuyển đổi số bộ chỉ số KPI trong lĩnh vực hành chính công, trong đó chú trọng bộ chỉ số KPI cam kết chất lượng dịch vụ và bộ chỉ số KPI theo dõi, đánh giá sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp với các cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước. Bộ chỉ số KPI mang tính quản trị hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam sẽ giúp: (i) Phản ánh, đánh giá và cải thiện, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, thái độ phục vụ. (ii) Phản ánh và nâng cao chất lượng, năng lực, trình độ và đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. (iii) Giảm thiểu tham nhũng (nhất là “tham nhũng vặt”), lãng phí, tiêu cực. (iv) Tăng cường giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. (v) Đánh giá, nhận diện những lĩnh vực, cơ quan, địa bàn có chất lượng hoạt động thấp hoặc có nguy cơ phát sinh tiêu cực. Từ đó, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý kịp thời, góp phần triệt tiêu điều kiện để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái, vi phạm ngay từ sớm, từ xa. (vi) Đánh giá hiệu quả quản trị, điều hành và củng cố mối quan hệ giữa các cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước với Nhân dân, doanh nghiệp. Chú trọng xây dựng, cải tiến hệ thống dashboard dành cho cấp quản lý theo dõi, quản lý các các chỉ tiêu hiệu quả, chất lượng hoạt động của xã/phường.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, tổ chức phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng mạng xã hội nội bộ là diễn đàn truyền thông, trao đổi, thảo luận, bày tỏ quan điểm cũng như đóng góp ý kiến, ý tưởng, giải pháp trong xây dựng chính sách, thực hiện nhiệm vụ của tổ chức. Qua đó, các cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn thể có thể nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của người lao động để kịp thời giải quyết.
Năm là, thúc đẩy xây dựng, hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ðó là một hệ thống pháp luật minh bạch, ổn định, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Chính phủ hành động, kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ Nhân dân. Một bộ máy nhà nước kỷ cương, hiệu quả, nơi mỗi cán bộ, công chức ý thức rõ trách nhiệm của mình trước Nhân dân, trước đất nước.
Sáu là, đẩy mạnh xây dựng, phát triển, phát huy, lan tỏa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị con người, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam cho Nhân dân gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, phong trào thi đua, cuộc vận động của mỗi cơ quan, tổ chức trong toàn xã hội.
Xây dựng phương pháp quản lý, điều hành hoạt động khoa học, chuyên nghiệp, hiện đại trong mỗi cơ quan, tổ chức; xây dựng tác phong làm việc chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, sáng tạo, ứng xử chuẩn mực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kết hợp với ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào công việc.
Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, thể chất cho Nhân dân để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cả trí lực, thể lực và tinh thần. Khơi dậy niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân của mỗi người dân trong xây dựng văn hóa, đạo đức xã hội, nâng cao năng suất lao động, đóng góp trí tuệ và sức lực cho đất nước. Khuyến khích sự tham gia, phát huy vai trò của đoàn viên, thanh niên, trí thức trẻ trong lan tỏa thông tin tích cực, nhân văn trên không gian mạng, biến mạng xã hội thành nơi củng cố niềm tin.
Tóm lại, củng cố niềm tin xã hội của Nhân dân với chế độ, với Đảng và Nhà nước là củng cố, khơi dậy nguồn lực vô giá để đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Tài liệu tham khảo:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.27, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.46, phần I, Sđd, 1998.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập.
4. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
8. Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
9. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
10. Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
11. Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
12. Nghị quyết số 71-NQTW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
13. Nghị quyết số 72-NQTW, ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
14. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
15. Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
16. Bài phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Tin liên quan
Tin khác
Ứng dụng Mô hình Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter trong quản trị chiến lược các tổ chức tín dụng tại Việt Nam
Triển khai IFRS 9 trong ngân hàng: Kinh nghiệm từ Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia và hàm ý đối với Việt Nam
Phát huy vai trò của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hỗ trợ hoạt động xuất - nhập khẩu
Chính sách tiền tệ Trung Quốc trước bài toán cầu yếu, giảm phát và tỷ giá: Hàm ý đối với Việt Nam
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại




