Chỉ số kinh tế:
Ngày 30/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.637 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.406/26.868 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Đề xuất đưa hàng loạt hệ thống AI trong y tế, giao thông vào diện “rủi ro cao”

Trần Hương
Trần Hương  - 
Lần đầu tiên, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất xây dựng Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao, trong đó nhiều hệ thống AI hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông vận tải, thực thi pháp luật và quản lý nhà nước sẽ thuộc diện phải kiểm soát đặc biệt hoặc phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng. Theo Tờ trình và Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện, định hướng quản lý mới được xây dựng trên nguyên tắc quản lý theo mức độ rủi ro, vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa thiết lập “hàng rào kỹ thuật” nhằm kiểm soát các hệ thống AI có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người, quyền công dân, an ninh quốc gia và lợi ích công cộng.
aa

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc xây dựng Danh mục hệ thống AI rủi ro cao được thực hiện trên cơ sở Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, trong đó Quốc hội giao Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể danh mục các hệ thống AI có rủi ro cao và các hệ thống phải thực hiện chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng.

Tờ trình cho biết, việc ban hành Danh mục không chỉ nhằm cụ thể hóa quy định pháp luật mà còn xuất phát từ yêu cầu kiểm soát các nguy cơ ngày càng lớn khi AI được triển khai trong những lĩnh vực thiết yếu của đời sống kinh tế - xã hội. Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh các hệ thống AI hiện nay có khả năng tự học, tự thích nghi và đưa ra các kết quả đầu ra có thể tác động trực tiếp tới môi trường vật lý và môi trường số trên diện rộng.

Đáng chú ý, Tờ trình nêu rõ nhiều hệ thống AI nếu hoạt động hoàn toàn tự động, không có sự kiểm soát thực chất của con người có thể gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe, quyền riêng tư hoặc an ninh quốc gia. Các lĩnh vực được nhắc tới gồm: y tế; giao thông; hạ tầng kỹ thuật trọng yếu; nhận diện sinh trắc học; thực thi pháp luật; tài chính – ngân hàng.

Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, việc ban hành Danh mục sẽ tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp, tổ chức và cơ quan quản lý xác định rõ hệ thống AI nào phải đánh giá sự phù hợp, phải thực hiện quản trị dữ liệu nghiêm ngặt hoặc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro đặc thù.

Hàng loạt hệ thống AI trong y tế, giao thông được xếp vào nhóm rủi ro cao

Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của dự thảo là việc lần đầu tiên Việt Nam đề xuất xác định cụ thể các nhóm hệ thống AI rủi ro cao theo từng lĩnh vực.

Trong lĩnh vực giáo dục, dự thảo đưa vào diện rủi ro cao các hệ thống AI: tự động cung cấp nội dung học tập cho quy mô lớn; tự động chấm điểm, xếp hạng người học; sử dụng dữ liệu sinh trắc học để giám sát hành vi, cảm xúc hoặc theo dõi người học.

Theo dự thảo, các hệ thống này có nguy cơ gây định kiến thuật toán, xâm phạm quyền riêng tư hoặc tạo áp lực tâm lý đối với người học nếu không được kiểm soát phù hợp.

Trong lĩnh vực y tế, nhiều hệ thống AI có khả năng tác động trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng người bệnh được đưa vào diện kiểm soát chặt chẽ, gồm: hệ thống AI đưa ra quyết định phác đồ điều trị; hệ thống kê đơn thuốc; AI hỗ trợ phẫu thuật; rô-bốt phẫu thuật tự động; hệ thống AI can thiệp xâm lấn mà không có phê duyệt độc lập của bác sĩ.

Đáng chú ý, dự thảo xác định các hệ thống AI trong y tế sẽ thuộc nhóm phải chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng nếu: hệ thống trực tiếp ra quyết định điều trị; người hành nghề khó kiểm chứng kết quả đầu ra; AI trực tiếp thực hiện thao tác điều trị lên cơ thể người bệnh mà không cần xác nhận từng bước từ nhân viên y tế.

Lĩnh vực giao thông vận tải và hạ tầng kỹ thuật trọng yếu là nhóm có số lượng hệ thống AI rủi ro cao lớn nhất trong dự thảo.

Danh mục bao gồm hàng loạt hệ thống: AI điều khiển phương tiện tự hành; AI điều độ giao thông; AI điều khiển tín hiệu đường sắt; AI quản lý không lưu; AI điều phối slot cất hạ cánh; AI điều khiển drone/UAV; AI phân tích hành lý soi chiếu; AI nhận diện sinh trắc học tại sân bay; AI quản lý hạ tầng sân bay; AI điều khiển hệ thống điện, cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật trọng yếu.

Đặc biệt, nhiều hệ thống được xác định là rủi ro cao khi có khả năng: tự động phát lệnh; thay đổi trạng thái vận hành vật lý; quyết định điều hướng phương tiện; đóng đường băng; phân luồng giao thông; hoặc trực tiếp áp dụng biện pháp an ninh mà không có phê duyệt độc lập của con người.

Thiết lập cơ chế “tiền kiểm” với các hệ thống AI đặc biệt nguy hiểm

Một điểm rất đáng chú ý của dự thảo là việc phân chia hệ thống AI rủi ro cao thành hai nhóm quản lý khác nhau.

Nhóm thứ nhất là các hệ thống AI được xác định có rủi ro cao nhưng chủ yếu áp dụng cơ chế: tự đánh giá sự phù hợp; hậu kiểm; giám sát nội bộ; quản trị dữ liệu và báo cáo định kỳ.

Nhóm thứ hai là các hệ thống AI có rủi ro đặc biệt nghiêm trọng, phải: chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng.

Theo dự thảo, đây là những hệ thống: hoạt động hoàn toàn tự động; trực tiếp đưa ra quyết định pháp lý; hoặc tác động vật lý làm thay đổi quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người hoặc an ninh quốc gia; không có sự kiểm tra, can thiệp độc lập của con người trước khi thực thi.

Các hệ thống thuộc diện “tiền kiểm” này bao gồm: AI tự động phê duyệt hoặc từ chối hồ sơ chính sách dân tộc; AI tự động dừng chi trả hoặc khóa quyền hưởng hỗ trợ; AI suy đoán thuộc tính nhạy cảm về dân tộc, tín ngưỡng; AI nhận dạng sinh trắc học diện rộng phục vụ thực thi pháp luật; AI tự động phân tích chứng cứ số để đưa ra kết luận về hành vi phạm tội; AI điều trị tự động và rô-bốt phẫu thuật tự động.

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết định hướng xuyên suốt của dự thảo là quản lý AI theo mức độ rủi ro, không tạo rào cản đối với các ứng dụng AI rủi ro thấp và không làm cản trở hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Tờ trình nhấn mạnh việc xác định hệ thống AI rủi ro cao được xây dựng trên nhiều tiêu chí: mức độ tác động; mức độ tự động hóa; khả năng giám sát của con người; phạm vi người sử dụng; quy mô ảnh hưởng; lĩnh vực sử dụng thiết yếu hoặc liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng.

Đáng chú ý, dự thảo cũng quy định nguyên tắc loại trừ đối với các hệ thống AI chỉ có chức năng hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần hoặc vẫn có sự giám sát thực chất của con người nhằm tránh tạo rào cản không cần thiết cho doanh nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc ban hành Danh mục hệ thống AI rủi ro cao là bước cần thiết để đưa Luật Trí tuệ nhân tạo vào thực tiễn, đồng thời thiết lập cơ chế quản lý phù hợp đối với những công nghệ có khả năng tác động trực tiếp tới quyền con người, an ninh quốc gia và an toàn xã hội trong kỷ nguyên số.

Trần Hương

Tin liên quan

Tin khác

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 24-30/10

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 24-30/10

Hướng dẫn chi tiết giảm 30% số thuế TNCN, thuế TNDN phải nộp từ kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỉ đồng; hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm; xây dựng Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài theo hướng mở... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 24-30/10/2026.
Đề xuất chính sách đặc thù về xử lý tiền thuế nợ, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế

Đề xuất chính sách đặc thù về xử lý tiền thuế nợ, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị quyết của Quốc hội ban hành chính sách đặc thù về xử lý tiền thuế nợ để tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện luật quản lý thuế nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Đề xuất chính sách đặc thù với người nộp thuế ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa đóng mã số thuế

Đề xuất chính sách đặc thù với người nộp thuế ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa đóng mã số thuế

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị quyết của Chính phủ ban hành chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Khẩn trương xem xét phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% và giảm giá điện

Khẩn trương xem xét phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% và giảm giá điện

Ngày 27/10/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã chủ trì cuộc họp về các kịch bản điều hành giá xăng dầu và điện.
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 17-23/10/2026

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 17-23/10/2026

Tăng cường phòng, chống gian lận thi cử, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục đào tạo; từ 16/10/2026, mua, bán vàng trong ngày từ 5 triệu đồng phải thanh toán không dùng tiền mặt... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 17-23/10/2026.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng theo hướng minh bạch, thông thoáng

Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường vàng theo hướng minh bạch, thông thoáng

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 390/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 16/10/2026. Các điều, khoản dẫn dưới đây là của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP sau khi được sửa đổi, bổ sung, trừ trường hợp dẫn rõ Nghị định số 390/2026/NĐ-CP.
Khẩn trương trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu trước 10/11/2026

Khẩn trương trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu trước 10/11/2026

Văn phòng Chính phủ có văn bản số 10747/VPCP-CN ngày 21/10/2026 gửi Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu và các nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 83/2014/NĐ-CP.
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 10-16/10

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần 10-16/10

Tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026; cơ chế thu hút chuyên gia, tài năng trẻ trong hoạt động đổi mới sáng tạo, khai thác dữ liệu... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 10-16/10/2026.
Tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026

Tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Công điện số 70/CĐ-TTg ngày 15/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp quản lý, điều hành giá trong những tháng cuối năm 2026, góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.
Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030

Điều chỉnh, bổ sung Chiến lược nợ công đến năm 2030

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 15/10/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030.