Thêm nhiều ngân hàng giảm lãi suất
| Fed giữ nguyên lãi suất: Áp lực nào đối với Việt Nam? Giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, triển vọng phục hồi mong manh ECB giữ nguyên lãi suất, Chủ tịch Lagarde bất ngờ thông báo rời nhiệm sở |
Làn sóng giảm lãi suất tiếp tục sôi động
MSB, VietABank và GPBank vừa điều chỉnh giảm lãi suất huy động, với mức giảm 0,5 điểm phần trăm tại các kỳ hạn từ 6–36 tháng. Tại MSB, biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến dành cho khách hàng cá nhân, lĩnh lãi cuối kỳ, được điều chỉnh về 5,8%/năm đối với kỳ hạn 6–11 tháng; 6,3%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng; 6,1%/năm đối với kỳ hạn 13–24 tháng và 5,6%/năm đối với kỳ hạn 36 tháng. Theo biểu niêm yết thông thường, mức lãi suất cao nhất của ngân hàng này là 6,3%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 12 tháng.
Bên cạnh biểu lãi suất thông thường, MSB áp dụng chương trình lãi suất đặc biệt 6,5%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng và 7%/năm đối với các kỳ hạn 12, 15 và 24 tháng. Khách hàng tham gia phải đáp ứng các điều kiện của ngân hàng, bao gồm số tiền gửi tối đa 5 tỷ đồng, không có khoản tiết kiệm tại MSB ở thời điểm mở sổ và mỗi khách hàng chỉ được mở một sổ tiết kiệm tại cùng thời điểm.
![]() |
| Một số nhà băng tiếp tục công bố điều chỉnh giảm lãi suất huy động, nối thêm danh sách các ngân hàng hạ lãi suất nhằm hưởng ứng chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước |
Tại VietABank, lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ sau điều chỉnh còn 5,5%/năm đối với kỳ hạn 6–11 tháng; 5,6%/năm đối với kỳ hạn 12–13 tháng; 5,7%/năm đối với kỳ hạn 15–18 tháng và 5,8%/năm đối với kỳ hạn 24–36 tháng. Các kỳ hạn ngắn hơn được niêm yết ở mức 4,7%/năm đối với kỳ hạn 1–2 tháng và 4,75%/năm đối với kỳ hạn 3–5 tháng. Đối với tiền gửi tại quầy, VietABank niêm yết mức lãi suất cao nhất 5,6%/năm cho kỳ hạn 24–36 tháng; các kỳ hạn từ 6–18 tháng có lãi suất dao động 5,3–5,5%/năm.
Tương tự, GPBank giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động kỳ hạn 6–36 tháng. Theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ, lãi suất kỳ hạn 6–8 tháng còn 4,75%/năm; kỳ hạn 9 tháng là 4,85%/năm và kỳ hạn 12–36 tháng là 5,05%/năm. Các kỳ hạn 1–2 tháng được niêm yết ở mức 3,6%/năm, kỳ hạn 3–5 tháng là 3,7%/năm.
Với hình thức gửi tiết kiệm tại quầy, lãi suất cao nhất của GPBank giảm còn 4,6%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 12–36 tháng. Các kỳ hạn 6–8 tháng có lãi suất 4,3%/năm, kỳ hạn 9 tháng là 4,4%/năm.
Sacombank cũng mới công bố điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng từ ngày 20/10/2026, hưởng ứng chủ trương của Chính phủ và NHNN về giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Sau điều chỉnh, đối với khách hàng cá nhân gửi tiền tại quầy dưới 500 triệu đồng, lãi suất lĩnh cuối kỳ tại các kỳ hạn 6–11 tháng còn 5,7%/năm; kỳ hạn 12–18 tháng dao động 5,4–5,5%/năm; kỳ hạn 24 và 36 tháng là 6,2%/năm. Trên kênh trực tuyến, lãi suất tiền gửi cá nhân kỳ hạn 6–11 tháng dao động 6,3–6,7%/năm; kỳ hạn 12–18 tháng từ 6,5–7%/năm, tùy số tiền gửi. Mức cao nhất sau điều chỉnh là 7,3%/năm, áp dụng cho khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng tại kỳ hạn 24–36 tháng.
Diễn biến giảm lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng diễn ra cùng thời điểm lãi suất liên ngân hàng bằng VND hạ nhiệt ở một số kỳ hạn ngắn. Theo báo cáo của NHNN, trong tuần từ ngày 19-23/10/2026, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bằng VND đạt xấp xỉ 4,518 triệu tỷ đồng, bình quân 903.626 tỷ đồng/ngày, giảm 15.998 tỷ đồng/ngày so với tuần trước.
Về lãi suất, thị trường liên ngân hàng ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất bình quân giao dịch VND kỳ hạn qua đêm giảm 0,2 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống 3,95%/năm. Ngược lại, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,06 điểm phần trăm, lên 4,11%/năm. Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất bình quân VND đạt 5,05%/năm đối với kỳ hạn 2 tuần, 5,12%/năm kỳ hạn 1 tháng, 7,23%/năm kỳ hạn 3 tháng, 7,95%/năm kỳ hạn 6 tháng và 8,7%/năm kỳ hạn 9 tháng.
Cân đối chi phí vốn, tăng hỗ trợ doanh nghiệp
Những tháng cuối năm là thời điểm doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, hoàn thiện đơn hàng, bổ sung hàng hóa và chuẩn bị cho mùa kinh doanh Tết Nguyên đán. Nhu cầu vốn lưu động của khách hàng tăng, đặt ra yêu cầu các ngân hàng vừa chủ động cân đối nguồn vốn, vừa triển khai chính sách tín dụng phù hợp để hỗ trợ khách hàng.
Theo ông Nguyễn Anh Quân, Phó Giám đốc Phân tích và Nghiên cứu FiinRatings, khi áp lực giá vẫn hiện hữu, đặc biệt từ giá năng lượng, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, việc giảm lãi suất cần được cân nhắc thận trọng để tránh tạo thêm áp lực lạm phát. Chính sách tiền tệ của Mỹ và diễn biến tỷ giá USD/VND tiếp tục ảnh hưởng đáng kể đến quyết định điều hành của NHNN. Nếu lãi suất USD duy trì ở mức cao hoặc tăng trở lại, chênh lệch lãi suất cho vay giữa VND và USD cùng biến động dòng vốn quốc tế có thể gây áp lực lên tỷ giá, thu hẹp dư địa giảm lãi suất trong nước. Ngược lại, khi áp lực tỷ giá hạ nhiệt, dòng vốn nước ngoài ổn định hơn và điều kiện tài chính quốc tế thuận lợi hơn, NHNN sẽ có thêm dư địa điều hành linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng.
“Dư địa giảm lãi suất, nếu có, còn phụ thuộc vào thanh khoản, mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng, chất lượng tín dụng và mức độ phục hồi thực chất của doanh nghiệp”, ông Quân phân tích.
Về dài hạn, chuyên gia FiinRatings cho rằng, để duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, chúng ta cần phát triển cơ cấu cung ứng vốn cân bằng hơn, trong đó tín dụng ngân hàng và thị trường vốn bổ trợ cho nhau. Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn lưu động, còn nhu cầu vốn đầu tư trung, dài hạn cần được đáp ứng nhiều hơn qua trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu, vốn cổ phần tư nhân và các kênh huy động dài hạn khác.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng công bố thông tin, minh bạch mục đích sử dụng vốn, nghĩa vụ nợ và năng lực trả nợ của doanh nghiệp phát hành; tăng cường vai trò của xếp hạng tín nhiệm độc lập và mở rộng cơ sở nhà đầu tư tổ chức.
Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn phù hợp với dòng tiền và thời gian hoàn vốn, áp lực tập trung lên tín dụng ngân hàng sẽ từng bước giảm. Đây cũng là cơ sở để giảm áp lực lên nguồn vốn huy động, cải thiện khả năng cân đối kỳ hạn của các tổ chức tín dụng và tạo điều kiện duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý hơn.
Tin liên quan
Tin khác
Tín dụng tăng 11,94%, dư nợ toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,8 triệu tỷ đồng
Quản trị tài chính trong kỷ nguyên số: Nâng chất lượng dòng vốn, củng cố năng lực tăng trưởng
Cập nhật 18 nguyên tắc về hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả
Nâng cao năng lực truyền thông chính sách trong ngành Ngân hàng
Sáng 30/10: Tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng
[Infographic] Tỷ giá tính chéo để xác định trị giá tính thuế từ 29/10-4/11
Fed giữ nguyên lãi suất: Áp lực nào đối với Việt Nam?
Khu vực ngân hàng của Việt Nam được WB ghi nhận về hiệu quả hoạt động
Sáng 29/10: NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.644 đồng

