Dự báo tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam lên 3%

10:28 | 18/12/2021

Xuất khẩu tháng 11 tăng 18,5%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,6%, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh… cho thấy hoạt động kinh doanh của Việt Nam đang có dấu hiệu bình thường hóa. Với các chỉ số trên, Ngân hàng UOB dự báo tăng trưởng GDP quý IV/2021 sẽ phục hồi lên mức 7% và sẽ đưa tăng trưởng GDP cả năm lên 3%.

Sau khi chịu sự sụt giảm chưa từng có đối với tăng trưởng GDP trong quý III/2021 do các đợt đóng cửa trên toàn quốc và hạn chế di chuyển để đối phó với làn sóng thứ tư của dịch COVID-19, các hoạt động kinh doanh đã dần trở lại bình thường kể từ đầu tháng 10 tại Việt Nam.

Đại diện Ngân hàng UOB cho biết, những dấu hiệu tích cực ban đầu được phản ánh trong lĩnh vực sản xuất, với chỉ số quản lý mua hàng (PMI) đã quay trở lại mức trên 50 vào tháng 10 sau 4 tháng ở mức dưới 50. Chỉ số này đã phục hồi mạnh lên 52,1 vào tháng 10 và sau đó lên 52,2 vào tháng 11, từ mức 40,2 vào tháng 9. Các chỉ báo khác trong tháng 10 và tháng 11 cũng cho thấy sự phục hồi ổn định từ mức sụt giảm trong quý III/2021.

du bao tang truong gdp ca nam cua viet nam len 3

Số liệu do Cục Thống kê (GSO) công bố cho thấy hoạt động kinh doanh của Việt Nam đang có dấu hiệu bình thường hóa, đặc biệt đối với khu vực ngoại thương bao gồm các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh liên quan đến thương mại.

Xuất khẩu tháng 11 tăng 18,5% trong khi nhập khẩu tăng 20,8% với thặng dư thương mại 100 triệu USD. Tính từ đầu năm đến tháng 11, giá trị xuất khẩu và nhập khẩu lần lượt đạt mức cao kỷ lục là 300 tỷ USD, cao hơn giá trị xuất khẩu 280 tỷ USD và giá trị nhập khẩu là 262 tỷ USD của năm 2020.

Tuy nhiên, nhập khẩu tăng mạnh đã khiến thặng dư thương mại của Việt Nam giảm mạnh xuống 1,8 tỷ USD lũy kế vào năm 2021, một phần nhỏ trong mức thặng dư 20 tỷ USD vào năm 2020.

Quan trọng không kém là chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái, sau 3 tháng giảm do hạn chế cách ly ở nhiều khu vực trong nước. Tính từ đầu năm, sản xuất công nghiệp đã tăng gần 5% trong tháng 11, cao hơn mức 3,3% của cùng kỳ năm ngoái.

Đại diện Ngân hàng UOB cho biết: “Điều đáng chú ý là bất chấp làn sóng lây nhiễm và đóng cửa do dịch COVID-19 trong năm, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn tiếp tục đổ vào quốc gia. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư vẫn ở mức cao đối với Việt Nam, vốn là trung tâm sản xuất chính trong chuỗi cung ứng thay đổi khi Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) có hiệu lực từ ngày 1/1/2022”.

Dòng vốn FDI vào Việt Nam đạt 26,5 tỷ USD so với đầu năm. Tháng 11, theo kịp tốc độ của năm 2020, khi cả dòng vốn FDI hiện có và đăng ký mới đạt tổng cộng hơn 22 tỷ USD, vượt xa con số 20 tỷ USD của cùng kỳ năm 2020.

Tuy nhiên, trong nước, khu vực dịch vụ tiếp tục hoạt động kém hiệu quả. Doanh thu bán lẻ nói chung sụt giảm trong 4 tháng liên tiếp bao gồm cả tháng 11, giảm 8,7% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, doanh thu bán lẻ và các lĩnh vực dịch vụ liên quan khác được kỳ vọng sẽ dần phục hồi với sự mở cửa trở lại của du lịch quốc tế.

“Các điểm dữ liệu mới nhất cho thấy sự đảo ngược so với mức sụt giảm trong quý III/2021, vốn chứng kiến GDP thu hẹp chưa từng có 6,17% so với mức tăng 6,57% trong quý II/2021. Với các lĩnh vực ngoại thương tiếp tục hoạt động tốt, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng GDP quý IV/2021 sẽ phục hồi lên mức 7%. Điều này sẽ đưa tăng trưởng GDP cả năm lên 3%”, đại diện Ngân hàng UOB chia sẻ.

Nếu không có bất kỳ sự gián đoạn lớn nào như từ biến thể Omicron, Việt Nam có khả năng tiến tới mức mở rộng kinh tế “bình thường” hơn là 7,4% vào năm 2022 (dự báo chính thức: 6,0-6,5%) trên cơ sợ số liệu thấp của năm 2020 và 2021 và thế mạnh của các lĩnh vực ngoại thương hiện có.

Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam được duy trì ổn định trong tháng 11, ở mức 2,1%, chủ yếu do chi phí nhiên liệu tăng, trong khi các thành phần giá khác hoạt động tương đối tốt, so với đầu năm, lạm phát trung bình ở mức 1,8%, tương đương khoảng một nửa so với 3,6% trong cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, lạm phát vào năm 2021 đang trên đà tăng vừa phải 1,9% so với 3,2% năm 2020 và sau đó tăng lên 3,2% vào năm 2022.

Với bối cảnh lạm phát tương đối lành tính và triển vọng không chắc chắn do biến thể Omicron mới xuất hiện của dịch COVID-19 ngay khi đất nước lấy lại vị thế sau làn sóng lây nhiễm vừa qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có khả năng sẽ giữ ổn định chính sách của mình để hỗ trợ các nỗ lực phục hồi.

Theo Ngân hàng UOB, với kỳ vọng tình hình sẽ được quản lý tốt giống như đã từng xảy ra trước đây, nên cả lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,0% và lãi suất tái chiết khấu ở mức 2,5% sẽ vẫn giữ ở mức thấp kỷ lục ở thời điểm hiện tại.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.050 23.360 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.050 23.330 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.350 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.080 23.290 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.080 23.600 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.049 23.340 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.130 23.320 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
69.000
69.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
69.000
69.900
Vàng SJC 5c
69.000
69.920
Vàng nhẫn 9999
54.400
55.300
Vàng nữ trang 9999
54.100
54.900