Hàn Quốc siết chặt tài khóa để ngăn lạm phát

08:09 | 31/08/2022

Hàn Quốc hôm 30/8 cho biết sẽ cắt giảm chi tiêu hàng năm của Chính phủ vào năm tới, lần cắt giảm đầu tiên trong hơn một thập kỷ với mục tiêu rút bớt các biện pháp kích thích được triển khai trong giai đoạn đại dịch và giúp NHTW Hàn Quốc kiềm chế lạm phát.

Thu hẹp chi tiêu ngân sách

Công bố đề xuất ngân sách đầu tiên dưới thời Tổng thống Yoon Suk-yeol, Bộ Tài chính Hàn Quốc cho biết, chi tiêu của Chính phủ nước này trong năm tới chỉ khoảng 639 nghìn tỷ won (473 tỷ USD), nhỏ hơn 6% so với mức chi tiêu của năm nay sau hai lần bổ sung ngân sách. Đây là lần giảm chi tiêu hàng năm đầu tiên của Hàn Quốc kể từ năm 2010, với giả định không có ngân sách bổ sung nào cho năm 2023. Nếu loại trừ ngân sách, chi tiêu năm 2023 của Hàn Quốc sẽ tăng 5,2%, mức chậm nhất kể từ năm 2017.

Để đạt được mức cắt giảm chi tiêu năm 2023, Chính phủ Hàn Quốc sẽ “chuyển giao một số dự án công cho khu vực tư nhân” và sẽ cắt giảm lương của các quan chức cấp cao, theo dự thảo ngân sách.

Nhưng ngân sách cũng dự kiến gia tăng chi phí phúc lợi xã hội cho những người có thu nhập thấp và những người dễ bị tổn thương do nhu cầu chi tiêu phúc lợi có khả năng tăng trong một nền kinh tế già hóa nhanh chóng.

han quoc siet chat tai khoa de ngan lam phat
NHTW Hàn Quốc đã thực hiện tăng lãi suất 7 lần, tổng cộng 200 điểm

Bộ Tài chính Hàn Quốc cũng cho biết, tỷ lệ thâm hụt tài khóa/GDP của Hàn Quốc sẽ thu hẹp xuống 2,6% trong năm tới từ mức ước tính 5,1% trong năm nay (sau khi bổ sung chi tiêu). Tỷ lệ nợ/GDP cũng sẽ giảm lần đầu tiên trong 5 năm từ 50,0% xuống 49,8%.

Động thái này đánh dấu sự chuyển hướng từ việc chi tiêu tài khóa tích cực dưới thời chính phủ của Tổng thống tiền nhiệm Moon Jae-in trong những năm gần đây và từ các biện pháp kích thích lớn được thực hiện trong đại dịch để giúp nền kinh tế chống chọi với cuộc khủng hoảng Covid-19.

Theo đó chính quyền của Tổng thống Yoon Suk-yeol đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ thâm hụt tài khóa ở mức trung bình 2% GDP và tỷ lệ nợ dưới mức trung bình 50% GDP cho đến năm 2026 và đang chuẩn bị một dự luật để đưa các mục tiêu này trở thành ràng buộc pháp lý.

“Chính phủ đang chuyển hoàn toàn lập trường chính sách tài khóa sang “tài chính hợp lý” để đảm bảo tính bền vững tài khóa, cải thiện vị thế tín dụng bên ngoài và chi tiêu có trách nhiệm cho các thế hệ tương lai”, Bộ Tài chính Hàn Quốc cho biết trong một tuyên bố. Dự kiến bản kế hoạch ngân sách này sẽ được trình lên Quốc hội Hàn Quốc vào thứ Sáu tới.

Chung tay kiểm soát lạm phát

Động thái cắt giảm chi tiêu ngân sách diễn ra khi NHTW Hàn Quốc đang nỗ lực kiềm chế lạm phát. Nó càng đáng được chú ý hơn khi mà đến nay các chính phủ từ Úc đến Canada vẫn tiếp tục các chính sách tài khóa mở rộng, ngay cả khi các NHTW của họ đã tăng lãi suất để giải quyết lạm phát tăng cao.

Là NHTW đầu tiên trên thế giới thực hiện thắt chặt tiền tệ vào tháng 8/2021, kể từ đó đến nay cơ quan này đã thực hiện 7 lần tăng lãi suất với mức tăng tổng cộng lên tới 200 điểm. Gần đây nhất, ngày 25/8/2022, NHTW Hàn Quốc đã quyết định tăng lãi suất thêm 25 điểm lên 2,5%.

Phát biểu tại buổi họp báo sau quyết định tăng lãi suất này, Thống đốc Rhee Chang-yong cho biết, việc kiểm soát lạm phát là ưu tiên của NHTW Hàn Quốc. “Chừng nào tốc độ tăng trưởng của chúng tôi tương đối ổn định so với các quốc gia khác, việc đảm bảo lạm phát nằm trong tầm kiểm soát trước tiên sẽ hữu ích trong trung và dài hạn”, Thống đốc Rhee cho biết.

Trước đó ngày 13/7/2022, NHTW Hàn Quốc còn quyết định tăng lãi suất tới 50 điểm, mức tăng lớn nhất kể từ năm 1999 trong bối cảnh lạm phát tại nước này tăng lên 6,3% vào tháng 7, mức cao nhất kể từ tháng 11/1998. NHTW Hàn Quốc cũng đã nâng dự báo lạm phát năm nay lên 5,2% từ mức 4,5% trong dự báo trước đó, mức tăng cao nhất trong gần một phần tư thế kỷ.

Sau phát biểu của Chủ tịch Fed Jerome Powell tại Hội nghị thường niên ở Jackson Hole rằng nền kinh tế Mỹ sẽ cần chính sách tiền tệ thắt chặt “trong một thời gian”, Thống đốc NHTW Hàn Quốc Rhee Chang-yong cũng khẳng định, lập trường chính sách tiền tệ của cơ quan này sẽ không thay đổi và NHTW Hàn Quốc sẽ theo dõi chặt chẽ các quyết định chính sách của Fed khi sự biến động trên thị trường toàn cầu gia tăng.

"(Bài phát biểu của Powell) không khác nhiều so với những gì NHTW Hàn Quốc nghĩ khi tổ chức cuộc họp để ấn định lãi suất vào ngày 25/8 và do đó, sẽ không có thay đổi trong quản lý chính sách của chúng tôi", Thống đốc Rhee nói.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450