Linh hoạt, thận trọng với điều hành lãi suất

12:26 | 11/07/2022

Nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao như hiện tại, việc ổn định mặt bằng lãi suất đang gặp nhiều thách thức.

linh hoat than trong voi dieu hanh lai suat Ngân hàng công khai thông tin hỗ trợ lãi suất 2% của Chính phủ
linh hoat than trong voi dieu hanh lai suat Tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tiếp cận gói hỗ trợ lãi suất 2%

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động

Theo số liệu thống kê mới nhất của NHNN, tính đến ngày 30/6/2022, tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 11,4 triệu tỷ đồng, tăng 9,35% (cùng kỳ năm 2021 tăng 6,47%). Huy động vốn đạt trên 11,8 triệu tỷ đồng, tăng 4,51% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ năm 2021 tăng 4,09%). Chủ tịch HĐTV Agribank Phạm Đức Ấn cho rằng, việc tín dụng nửa đầu năm tăng nhanh, cao gấp đôi so với huy động vốn là dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, tạo áp lực đến mặt bằng lãi suất.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng cũng đã điều chỉnh biểu lãi suất huy động. Đơn cử tại SCB, hiện lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng tại quầy giao dịch ở mức 7,3%/năm, nếu gửi tiết kiệm online, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất 7,55%/năm. Tại Nam A Bank, lãi suất tiền gửi tại quầy kỳ hạn 12 tháng là 6,5%/năm và kỳ hạn 18 - 23 tháng là 6,7%/năm. Với khoản tiền gửi online, mức lãi suất ngân hàng này áp dụng là 7,2%/năm với kỳ hạn 12 tháng và 7,4%/năm với kỳ hạn trên 16 tháng.

linh hoat than trong voi dieu hanh lai suat
Lãi suất huy động đang có chiều hướng tăng

Nhóm 4 NHTM Nhà nước (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) áp dụng mức lãi suất tiền gửi tại quầy thấp hơn so với nhóm NHTM cổ phần tư nhân, với mức cao nhất là 5,5 - 5,6%/năm. Nếu gửi online, mức lãi suất tối đa khách hàng nhận được chỉ là 6%/năm. Song nhìn chung so với giai đoạn năm 2021, mặt bằng lãi suất của nhóm nhà băng này đã nhích lên từ 0,5-1%/năm.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh đây là một điều tất yếu để các ngân hàng có thể cạnh tranh thu hút tiền gửi từ dân cư với các kênh đầu tư khác, nhất là trong bối cảnh áp lực lạm phát đang ngày một lớn. Bên cạnh đó, tín dụng tăng nhanh trở lại cũng khiến các nhà băng phải đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng.

Chung quan điểm, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, bên cạnh áp lực lớn từ lạm phát, để thu hút dòng tiền gửi phục vụ tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng vẫn phải tăng lãi suất huy động.

Dư địa ổn định lãi suất cho vay vẫn còn

Theo đánh giá của SSI Research, sức ép tăng lãi suất huy động sẽ lớn hơn về cuối năm. Nguyên do bên cạnh áp lực lạm phát, còn có yếu tố nữa là các TCTD phải tuân thủ quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn giảm từ 37% về 34% sẽ có hiệu lực từ ngày 1/10 theo Thông tư 08/2020/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Để cân đối nguồn vốn các NHTM sẽ phải tăng huy động kỳ hạn dài.

Các chuyên gia nhận định, đó chính là lý do phần lớn các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động các kỳ hạn dài. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên môn, mức tăng của lãi suất cho vay sẽ có độ trễ so với lãi suất huy động; và có phân hoá giữa mức tăng cũng như thời điểm tăng giữa các ngành nghề. Theo đó, NIM nhiều khả năng sẽ có điều chỉnh nhẹ trong thời gian tới.

TS. Trần Thế Sao - Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh cho rằng, hiện kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là áp lực lạm phát. Trong khi lãi suất là công cụ điều hành chủ yếu của NHTW tại các nền kinh tế lớn, đang được sử dụng để kiềm chế áp lực lạm phát. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn nên cũng chịu tác động không nhỏ từ những bất ổn kinh tế thế giới và những biến động trên thị trường tài chính toàn cầu.

Mặc dù vậy, hiện thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước vẫn được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát ở dưới mức mục tiêu mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra và thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế phát triển. Đặc biệt “nội lực” của nền kinh tế ngày càng được củng cố vững chắc. Thời điểm tháng 2/2022, quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã đạt mức trên 109,9 tỷ USD, gấp 10 lần so với năm 2010 và gấp gần 4 lần so với năm 2015. Do đó, NHNN đủ năng lực để can thiệp nhằm ổn định thị trường ngoại hối, tỷ giá theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô.

PGS-TS. Nguyễn Bá Minh - Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính cũng cho rằng, nền kinh tế đang trên đà phục hồi, tuy nhiên hiện các doanh nghiệp đang phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao. Vì vậy cần duy trì ổn định mặt bằng lãi suất cho vay như hiện tại để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi. “Dự trữ ngoại hối cao, thanh khoản dồi dào, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, GDP vẫn đang tăng là những công cụ giúp NHNN có thể giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế trong thời gian tới”, ông Minh khẳng định.

Tuy nhiên nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao như hiện tại, việc ổn định mặt bằng lãi suất đang gặp nhiều thách thức. TS. Trần Thế Sao cũng cho rằng, thị trường tài chính quốc tế trong những năm gần đây và dự kiến trong thời gian tới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó, đòi hỏi NHNN Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chủ động, nhưng cũng hết sức linh hoạt để vừa thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, song vẫn hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Hạ Chi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000