banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 2/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.636 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.405/26.867 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Mở không gian biển để dòng vốn ra khơi

Hương Giang
Hương Giang  - 
Nghị quyết 20-NQ/TW chuyển trọng tâm từ khai thác tài nguyên sang quản trị không gian biển, mục tiêu đến năm 2030 vùng ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước. Tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành mục tiêu, ngành Ngân hàng đã chủ động hỗ trợ các ngành kinh tế biển, nhưng dòng vốn chỉ đi xa khi có quy hoạch cụ thể, quyền tài sản và công cụ tài chính dài hạn.
aa
Cải cách thể chế, tạo động lực mở không gian phát triển kinh tế biển Ngành Ngân hàng triển khai các giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế biển Ngân hàng hỗ trợ phát triển kinh tế biển
Mở không gian biển để dòng vốn ra khơi
Mục tiêu đến năm 2030 vùng ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước. Ảnh:TCTS

Bước chuyển tư duy và động lực mới

Việt Nam là quốc gia có diện tích biển lớn gấp khoảng ba lần diện tích đất liền. Đặc biệt, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước hiện có 21/34 tỉnh, thành phố giáp biển. Không gian ấy không chỉ có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh, mà còn chứa đựng nguồn lợi thủy sản đa dạng, tài nguyên khoáng sản, năng lượng tái tạo… cùng hệ thống cảng, vận tải, du lịch, đô thị ven biển và nhiều ngành kinh tế biển mới đang mở ra.

Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Theo các chuyên gia kinh tế, không gian phát triển tại nhiều khu vực ven biển còn thiếu tính liên kết; hạ tầng, dịch vụ hậu cần, đô thị và các ngành kinh tế biển chưa hình thành được hệ sinh thái đồng bộ để tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa nhanh, nhu cầu về quỹ đất cho phát triển hạ tầng, dịch vụ, du lịch, logistics và các trung tâm kinh tế mới ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những không gian phát triển mới.

Thực tế đó buộc chúng ta phải có cách tiếp cận mới. Ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, tư duy xuyên suốt của Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phấn đấu đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; thu nhập bình quân đầu người tại các địa phương ven biển cao hơn 1,2 - 1,3 lần bình quân cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khu vực này đạt trên 11%/năm.

Để đạt được những mục tiêu này, Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng yêu cầu hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký và cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển; quy định rõ quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn và cho thuê lại… Với ngành Ngân hàng, đây không phải nội dung kỹ thuật mà chính là điều kiện cần để tín dụng vươn ra biển lớn.

Thể chế rõ đến đâu, dòng vốn đi xa đến đó

Thực tế, dòng vốn ngân hàng vẫn luôn đồng hành và dần thấm vị mặn của biển. Riêng tại TP. Quảng Ninh, Hải Phòng, hai địa bàn xác định động lực tăng trưởng chủ lực là các lĩnh vực cảng biển, logistics, vận tải biển, đóng tàu và kinh tế biển, bà Nguyễn Thị Dung, Giám đốc NHNN chi nhánh Khu vực 6 cho biết, các giải pháp tín dụng được xây dựng theo hướng linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, ưu tiên dòng vốn cho lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các ngành kinh tế trọng điểm. Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn ước đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ; đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân, mà còn góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng tài chính vững chắc để các ngành kinh tế biển bứt phá và phát triển bền vững.

Đơn cử tại Đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), cuộc sống và sinh kế người dân gần như gắn hoàn toàn với biển. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Huy, Chủ tịch UBND Đặc khu Lý Sơn cho biết, chi phí sản xuất, vận chuyển và đầu tư trên đảo đều cao hơn đất liền, trong khi hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, môi trường nước và biến động thị trường. Anh Huỳnh Ngọc Thảo (thôn Đông An Hải) cho biết, hai bè cá của gia đình anh có 75 ô lồng nuôi cá bớp. Tổng vốn đầu tư vào khoảng 2 tỷ đồng, trong đó một nửa là vốn vay từ ngân hàng. Một vụ cá kéo dài gần một năm. Cá giống phải mua từ Nha Trang, thức ăn chủ yếu là cá biển tươi nên chi phí rất cao. Chỉ riêng tiền thức ăn mỗi tháng đã lên tới 200 - 300 triệu đồng. Không có vốn vay gần như không thể duy trì.

Không chỉ riêng ngành thủy sản, theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các dự án trên biển thường có quy mô vốn lớn, vòng đời kéo dài hàng chục năm, nên cơ chế xác lập quyền tài sản cần hoàn thiện để có thể dùng làm tài sản bảo đảm khi vay vốn. Với các dự án có vòng đời 20-30 năm, nếu quyền tài sản trên biển chưa rõ ràng thì TCTD khó có cơ sở cấp vốn, còn doanh nghiệp cũng thiếu niềm tin triển khai dự án lớn. Thực tế, ngay trong quá trình chuyển đổi từ nuôi lồng bè truyền thống sang nuôi biển công nghệ cao, nhiều tài sản có giá trị lớn nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nên không đủ điều kiện để thế chấp; ngân hàng cũng thiếu thông tin về hạ tầng, thiết kế lồng bè, công nghệ nuôi và đầu ra sản phẩm để thẩm định.

Để giải quyết những thách thức trong dài dạn, cuối tháng 8/2026, NHNN ban hành Quyết định số 1941/QĐ-NHNN về Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ, yêu cầu các TCTD cân đối nguồn vốn, quan tâm đầu tư tín dụng đối với các ngành, lĩnh vực liên quan như hạ tầng biển, dầu khí, hàng hải, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp ven biển, du lịch biển và dịch vụ biển, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới; thường xuyên nghiên cứu, phát triển đa dạng sản phẩm tín dụng ngân hàng; rà soát, cải tiến, đổi mới quy trình, thủ tục cấp tín dụng phù hợp với nhu cầu và thực tiễn hoạt động của các ngành, lĩnh vực kinh tế biển, từng bước mở rộng và tăng cường hỗ trợ khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Là một trong những ngân hàng vừa có chương trình tín dụng mới nhất dành cho kinh tế biển, Agribank dành quy mô 5.000 tỷ đồng để ưu đãi cho khách hàng cá nhân đầu tư vào lĩnh vực thủy sản qua Chương trình “Tiếp vốn thủy sản - Vững bước thành công”. Riêng tại Đặc khu Lý Sơn, ông Huỳnh Tấn Lực, Giám đốc Agribank Quảng Ngãi cho biết, dư nợ hiện đạt khoảng 2.038 tỷ đồng, tăng trưởng gần 9% so với cuối năm trước, với hơn 6.000 khách hàng còn dư nợ. Trong đó, khoảng 72% dư nợ tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Quan điểm của Chi nhánh là ở những địa bàn khó khăn như miền núi và hải đảo, ngân hàng không thể chỉ nhìn vào tài sản bảo đảm mà phải nhìn vào phương án sản xuất, khả năng phục hồi và nhu cầu thực tế của người dân; đẩy mạnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp OCOP, các mô hình chế biến nông sản, du lịch cộng đồng và kinh tế biển. Một số doanh nghiệp địa phương sau khi được tiếp cận vốn đã mạnh dạn đầu tư nhà xưởng, chế biến sâu và từng bước đưa sản phẩm ra thị trường xuất khẩu.

Song, để dòng vốn ngân hàng tiếp tục vươn ra biển lớn, PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng cho rằng, tín dụng cho kinh tế biển cần chuyển từ hỗ trợ vốn sang tài trợ cho cả chuỗi giá trị. Bởi lẽ kinh tế biển có đặc điểm vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài và mức độ rủi ro cao. Vì vậy, chỉ giảm lãi suất chưa đủ để khơi thông dòng vốn. Điều quan trọng hơn là xây dựng các sản phẩm tín dụng phù hợp với từng lĩnh vực; tăng đánh giá dựa trên dòng tiền, phương án kinh doanh và chuỗi liên kết. Với những ngành mới như điện gió ngoài khơi hay nuôi biển công nghiệp, cần cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm. Khi rủi ro được phân bổ hợp lý, dòng vốn dài hạn mới có điều kiện chảy mạnh hơn vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mới.

Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng không thể gánh toàn bộ nhu cầu vốn của lĩnh vực kinh tế đặc thù. TS.Nguyễn Đình Đáp, Chuyên gia nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nhận định, cần hoàn thiện tiêu chí tài chính biển xanh; xây dựng danh mục dự án đủ điều kiện huy động vốn; phát triển tín dụng dài hạn, trái phiếu xanh đại dương và tài chính hỗn hợp. Đây cũng là yêu cầu được Nghị quyết số 20-NQ/TW nhấn mạnh nhằm khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển quốc gia biển mạnh.

Hương Giang

Tin liên quan

Tin khác

Ngành Ngân hàng khu vực 6: Đồng bộ các giải pháp, hướng tới hoàn thành mục tiêu năm 2026

Ngành Ngân hàng khu vực 6: Đồng bộ các giải pháp, hướng tới hoàn thành mục tiêu năm 2026

Hướng tới mục tiêu tín dụng tăng 15% trong năm 2026, NHNN Khu vực 6 đang thúc dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.
NHNN Khu vực 6: Sơ kết 8 tháng và tập huấn Thông tư 62/2025/TT-NHNN cho hệ thống QTDND

NHNN Khu vực 6: Sơ kết 8 tháng và tập huấn Thông tư 62/2025/TT-NHNN cho hệ thống QTDND

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Khu vực 6 vừa tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 8 tháng đầu năm, triển khai phương hướng nhiệm vụ 4 tháng cuối năm 2026, đồng thời tập huấn Thông tư 62/2025/TT-NHNN cho 99 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trên địa bàn thành phố Hải Phòng và Quảng Ninh.
Sôi động Giải giao lưu thể thao Hệ thống QTDND trên địa bàn Khu vực 6 lần thứ I - năm 2026

Sôi động Giải giao lưu thể thao Hệ thống QTDND trên địa bàn Khu vực 6 lần thứ I - năm 2026

Vừa qua, tại Nhà thi đấu Thể dục Thể thao TP. Hải Phòng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Khu vực 6 đã tổ chức khai mạc Giải giao lưu thể thao Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) trên địa bàn lần thứ I - năm 2026.
Văn phòng đại diện Ngân hàng Mega International Commercial Bank CO., LTD tại Hải Phòng sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động

Văn phòng đại diện Ngân hàng Mega International Commercial Bank CO., LTD tại Hải Phòng sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động

NHNN Khu vực 6 tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động QTDND 4 tháng đầu năm 2026

NHNN Khu vực 6 tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động QTDND 4 tháng đầu năm 2026

NHNN chi nhánh Khu vực 6 vừa tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) 4 tháng đầu năm 2026, triển khai nhiệm vụ thời gian tới và tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các QTDND trên địa bàn nhằm nâng cao năng lực quản trị, điều hành và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.
Hội nghị triển khai nhiệm vụ Quỹ tín dụng nhân dân năm 2026 trên địa bàn Khu vực 6

Hội nghị triển khai nhiệm vụ Quỹ tín dụng nhân dân năm 2026 trên địa bàn Khu vực 6

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Khu vực 6 vừa tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) năm 2025, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2026.
Bổ nhiệm Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6

Bổ nhiệm Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6

Chiều 13/1, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 6 tổ chức hội nghị công bố, trao quyết định của Thống đốc NHNN bổ nhiệm Giám đốc NHNN Khu vực 6.
Thống đốc Nguyễn Thị Hồng dự Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng khu vực 6 năm 2026

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng dự Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng khu vực 6 năm 2026

Chiều 13/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Khu vực 6 tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2026. Đồng chí Nguyễn Thị Hồng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Thống đốc NHNN dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Cùng dự Hội nghị có đồng chí Trần Văn Quân, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng; các đồng chí trong Đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh; các đại diện lãnh đạo đơn vị liên quan và các tổ chức tín dụng trên địa bàn
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 giữ vững ổn định tiền tệ, tín dụng tăng trưởng bền vững

Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 giữ vững ổn định tiền tệ, tín dụng tăng trưởng bền vững

Năm 2025, bám sát chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 đã tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ trên địa bàn, qua đó giữ vững ổn định thị trường tiền tệ – tín dụng, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và bảo đảm tăng trưởng tín dụng an toàn, bền vững. Những kết quả này đã góp phần quan trọng hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội tại Hải Phòng và Quảng Ninh, với GRDP năm 2025 ước tăng lần lượt 11,81% (xếp thứ 2 cả nước) và 11,89% (đứng đầu toàn quốc).
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 hoạt động ổn định và hiệu quả

Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 hoạt động ổn định và hiệu quả

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 6 vừa tổng kết kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2025, cho thấy những nỗ lực đáng kể trong việc triển khai các chính sách tiền tệ, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp, người dân trên địa bàn.