Nền kinh tế Việt Nam đã phản ứng nhanh trước Covid-19

17:20 | 03/06/2020

Các hoạt động kinh tế trong nước khởi sắc trở lại, nhưng tài khoản kinh tế đối ngoại và ngân sách yếu đi, nền kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn - đây là những nhận định trong bản tin cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 6/2020 của Ngân hàng Thế giới (WB).

Trong bản tin cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 6 mà WB đưa ra ngày 3/6/2020 đã đưa ra những ghi nhận tích cực và lạc quan về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam nhưng cũng lưu ý đến khả năng tác động đến lạm phát do nới lỏng tiền tệ và bội chi tăng cao do thu từ thuế chưa hoàn thành chỉ tiêu.

Điểm lại những diễn biến kinh tế gần đây, điều đầu tiên WB nói là kết quả chống dịch COVID-19: Việt Nam đã bước sang ngày thứ 45 không có ca nhiễm COVID-19 mới trong cộng đồng. Hiện chưa có ca tử vong nào. 

Tiếp đến, WB ghi nhận kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc trở lại. Sau khi bị ảnh hưởng bởi giãn cách xã hội gần như tuyệt đối khắp toàn quốc trong tháng 4, chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP) tháng 5 bật tăng 11% so với tháng 4.

nen kinh te viet nam da phan ung nhanh truoc covid 19

Doanh số bán lẻ cũng phục hồi mạnh vào tháng 5. Vận tải hành khách và hàng hóa tăng lần lượt 116% và 32% trong tháng 5 so với tháng 4, nhờ các biện pháp hạn chế đi lại trong nước được từng bước nới lỏng từ ngày 23/4. Tình trạng hồi phục được minh chứng qua chỉ số đi lại của Google với mức tăng từ âm 30% từ giữa tháng 4 lên âm 5% trong tuần từ 25/5 so với các mốc trước dịch COVID.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục đổ vào Việt Nam trong tháng 5 nhưng với tốc độ chậm hơn so với báo cáo cho tháng 4. Trong 5 tháng đầu năm 2020, tổng giá trị FDI cam kết lên đến 13,9 tỷ USD - vẫn ở mức cao nhưng thấp hơn 17% so với cùng kỳ năm trước.

Theo quan sát của WB: Nền kinh tế Việt Nam phản ứng nhanh ngay sau khi những biện pháp giãn cách xã hội trong nước được nới lỏng trong tháng 5, với mức tăng 10% trong ngành chế tạo, chế biến và doanh số bán lẻ.

nen kinh te viet nam da phan ung nhanh truoc covid 19

Tín dụng phân bổ cho nền kinh tế ước tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước trong bốn tháng đầu năm 2020. Theo WB, tăng trưởng tín dụng thể hiện phản ánh chính sách nới lỏng tiền tệ và tín dụng nhằm ứng phó khủng hoảng COVID. Vào thời điểm giữa tháng 5, NHNN cắt giảm 3 mức lãi suất chính (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chào mua giấy tờ có giá và lãi suất chiết khấu) ở mức 50 điểm cơ bản mỗi mức. Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng cũng giảm từ 6% xuống 5,5%, còn trần lãi suất tiền gửi bằng tiền đồng được giảm 0,3-0,5 điểm phần trăm, tùy theo kỳ hạn.

Dù vậy, theo WB nền kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, các hoạt động kinh tế vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước COVID. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu bị ảnh hưởng do sức cầu trên toàn cầu yếu đi.

Trong khi đó, Chính phủ tiếp tục sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để bù đắp cho tác động tài chính của khủng hoảng virus corona, dẫn đến tín dụng ngân hàng trong nước tăng trưởng cao và số thu ngân sách sụt giảm nghiêm trọng.

“Số liệu GDP quý dự kiến được công bố đầu tháng 7 sẽ giúp theo dõi tốt hơn quỹ đạo kinh tế của Việt Nam, nhưng cho dù số liệu như thế nào, chúng ta vẫn cần lưu ý hơn đến khả năng tác động đến lạm phát do nới lỏng tiền tệ và bội chi tăng cao do thu từ thuế chưa hoàn thành chỉ tiêu”, WB lưu ý.

Ngân Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080