Ngân hàng tích cực hỗ trợ doanh nghiệp

09:54 | 11/10/2021

Sự hỗ trợ kịp thời của ngành Ngân hàng giúp doanh nghiệp vơi bớt khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra.

ngan hang tich cuc ho tro doanh nghiep Hỗ trợ nền kinh tế: Dư địa chính sách tiền tệ đã gần tới hạn
ngan hang tich cuc ho tro doanh nghiep Quyết liệt hỗ trợ người lao động

Những tháng qua, Đà Nẵng phải đối mặt với đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế địa phương. Nhiều doanh nghiệp, hộ sản xuất phải vừa hoạt động cầm chừng, vừa phòng chống dịch theo yêu cầu của chính quyền địa phương và ngành y tế nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động.

Doanh nghiệp khó khăn

Hiện tại, Đà Nẵng đã từng bước kiểm soát được tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh khó tránh khỏi những tác động tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng nguồn thu, do không sản xuất kịp các đơn hàng, ứ đọng nguyên vật liệu, dẫn đến khó khăn về nguồn vốn. Trong khi đó, nhiều chi phí thường xuyên của doanh nghiệp như điện, nước, tiền lương người lao động, chi phí quản lý, thuế... vẫn phải thực hiện.

Theo lãnh đạo một số doanh nghiệp trên địa bàn, để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải tạm dừng, hoặc nếu đảm bảo được “3 tại chỗ” thì hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng chỉ hoạt động với công suất 30-50%, nên rất khó khăn. Cá biệt, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng 8/2021 ước giảm 21,7% so với tháng trước và giảm 17,1% so với tháng cùng kỳ năm 2020. Tính chung 8 tháng năm 2021, chỉ số IIP tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2020. Điều đó cho thấy, dịch bệnh Covid-19 đã tác động nặng nề đến khu vực sản xuất công nghiệp.

ngan hang tich cuc ho tro doanh nghiep
Sự hỗ trợ kịp thời của ngành Ngân hàng giúp doanh nghiệp vơi bớt khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra

Trước thực tế này, các ngân hàng đã thực hiện giảm lãi vay, giảm một số khoản phí dịch vụ, tuy nhiên, cũng chỉ mới giải quyết được một phần rất nhỏ những khó khăn của doanh nghiệp. Theo Hiệp hội DNNVV Đà Nẵng, hiện nay nhiều doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ các gói tín dụng phù hợp, cụ thể là các hỗ trợ về tín dụng, tài chính.

Đến thời điểm hiện tại, một số doanh nghiệp mới nhận được hỗ trợ về vay vốn để trả lương cho người lao động, trong khi nhiều chương trình hỗ trợ tín dụng khác vẫn chưa dễ tiếp cận vì còn vướng về thủ tục, quy định. Trong thời gian tới, cần có giải pháp hỗ trợ tín dụng như giảm thêm lãi suất, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, cân đối, giãn thời hạn đáo hạn nợ… xem xét, thẩm định về thủ tục, điều kiện cho vay, tiêu chí để chứng minh thiệt hại do dịch bệnh một cách phù hợp và bảo đảm các quy định...

Ngân hàng tích cực hỗ trợ

Trước những thách thức các doanh nghiệp đang đối mặt, ngành Ngân hàng Đà Nẵng nhanh chóng và mạnh mẽ triển khai thực hiện chỉ đạo của Thống đốc NHNN Việt Nam về hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo ông Võ Minh, Giám đốc NHNN chi nhánh TP. Đà Nẵng, những tháng qua, chi nhánh đã quyết liệt thực hiện các quy định của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Ông Minh cho biết, chi nhánh đã lưu ý các TCTD trên địa bàn tập trung triển khai cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Theo đó, đến nay, tổng dư nợ cho vay của 5 lĩnh vực ưu tiên tại địa phương như nông nghiệp, nông thôn đạt 9.950 tỷ đồng, chiếm 5,28%; lĩnh vực xuất khẩu đạt 3.501 tỷ đồng, chiếm 1,86%; lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ 1.072 tỷ đồng, chiếm 0,57%; DNNVV hơn 57.950 tỷ đồng, chiếm 30,73%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 25,8 tỷ đồng, chiếm 0,014% trên tổng dư nợ.

Cùng với đó, tập trung vào hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, triển khai các giải pháp hỗ trợ, khắc phục thiệt hại do ảnh hưởng dịch Covid-19 để khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các TCTD trên địa bàn tiếp tục triển khai cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 theo Thông tư số 03/2021/TT-NHNN của Thống đốc NHNN về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và mới đây là Thông tư số 14/2021/TT-NHNN ngày 7/9/2021. Đến nay, tổng dư nợ dự kiến bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 trên địa bàn khoảng 63.352,29 tỷ đồng, chiếm khoảng 33,6% tỷ trọng dư nợ.

NHNN chi nhánh Đà Nẵng cũng chỉ đạo các TCTD tích cực tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Đến thời điểm này, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 3.734 khách hàng, với dư nợ hơn 7.030 tỷ đồng. Lũy kế tổng giá trị nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ từ 23/01/2020 đến nay hơn 12.368 tỷ đồng, với 6.344 khách hàng.

Số dư nợ được miễn giảm lãi và giữ nguyên nhóm nợ hơn 3.236 tỷ đồng, với 434 khách hàng. Lũy kế tổng giá trị nợ đã được miễn giảm lãi 6.080 tỷ đồng, với số lãi 20,11 tỷ đồng, với 772 khách hàng.

Cũng theo ông Minh, từ 23/01/2020 đến 31/8/2021, doanh số cho vay mới lũy kế là 271.724 tỷ đồng, số dư nợ cuối tháng 8/2021 hơn 21.675 tỷ đồng, với số khách hàng còn dư nợ 6.995 khách hàng. Đối với, hoạt động cho vay trả lương ngừng việc và vay phục vụ sản xuất, Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh Đà Nẵng đã giải ngân cho vay 7 doanh nghiệp, số tiền 1.113,28 triệu đồng, số lượt lao động được trả lương 284 người lao động. Trong đó, 6 doanh nghiệp vay vốn trả lương ngừng việc cho 250 lượt lao động, với số tiền 980 triệu đồng và 1 doanh nghiệp vay vốn trả lương phục hồi sản xuất kinh doanh cho 34 lượt lao động với số tiền 133,28 triệu đồng. Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh Đà Nẵng đang tiếp tục hướng dẫn 16 đơn vị sử dụng lao động với 3.515 lao động, số tiền dự kiến cho vay 13.960 triệu đồng.

Ông Minh nhấn mạnh, thời gian tới, chi nhánh tiếp tục chỉ đạo các TCTD trên địa bàn nỗ lực triển khai mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đặc biệt, các biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay theo Thông tư số 01/2022/TT-NHNN, Thông tư số 14/2021/TT-NHNN và chủ trương giảm lãi suất đối với dư nợ cho vay hiện hữu, cho vay mới đã được các TCTD đồng thuận thực hiện. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát đảm bảo các TCTD thực hiện đúng quy định và ngăn ngừa các rủi ro, sai phạm phát sinh. Đồng thời, tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng; tích cực triển khai các biện pháp kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh; tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả...

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ)

Bài và ảnh Công Thái

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.050
57.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.050
57.750
Vàng SJC 5c
57.050
57.770
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.550
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.250