Nhận diện nguy cơ, hỗ trợ thúc đẩy nền kinh tế thời kỳ bình thường mới

16:12 | 27/04/2022

Dù nền kinh tế đã có những dấu ấn tăng trưởng tích cực đi kèm với sự ổn định kinh tế vĩ mô nhưng theo các chuyên gia của VEPR, tăng trưởng kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro, thách thức.

nhan dien nguy co tim luc day cho nen kinh te thoi ky binh thuong moi
Theo các chuyên gia, chính sách tài khóa giữ vai trò chủ đạo trong chương trình phục hồi kinh tế

Cần có đánh giá chính thức về lạm phát

Tại tọa đàm “Hỗ trợ và phục hồi kinh tế Việt Nam trong điều kiện bình thường mới” ngày 27/4, do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng quá trình phục hồi của kinh tế Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục đối mặt với một số rủi ro, trở ngại chính.

Cụ thể là các rủi ro từ đại dịch, nguy cơ xuất hiện biến chủng mới; áp lực lạm phát và chi phí sản xuất đang tăng lên rất mạnh cũng như rủi ro từ xung đột Nga – Ukraine, sự chậm lại của kinh tế toàn cầu và các nền kinh tế đối tác quan trọng của Việt Nam.

Cùng với đó là sự lệch pha trong chính sách kích thích kinh tế của Việt Nam so với xu hướng chung toàn cầu và các rủi ro liên quan đến sự kém hiệu quả trong thực thi các chính sách kích thích kinh tế.

“Việt Nam cần đặc biệt chú ý về nguy cơ nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài. Lạm phát thấp hiện nay ở trong nước một phần vì cầu tiêu dùng thấp. Lạm phát do chi phí đẩy cần sớm được Chính phủ đánh giá chính thức, nhất là khả năng lạm phát trong các quý tiếp trong năm 2022 do ảnh hưởng của chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nhập khẩu tới lạm phát để có biện pháp kiểm soát giúp hạn chế tác động tiêu cực tới người tiêu dùng trong nước”, VEPR khuyến nghị.

Đồng thời, theo VEPR, Việt Nam cần nghiên cứu kịch bản tiếp tục giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối phó trường hợp giá xăng dầu khi giá thế giới biến động lớn, cũng như hoãn/giãn việc tăng các sắc thuế/phí nhằm bình ổn giá các mặt hàng tiêu dùng khác.

Kiểm soát tốt nguồn cung, chuỗi cung ứng vật tư, nhiên liệu sản xuất kể cả hàng hóa tiêu dùng giữa các vùng, giữa các địa phương với nhau, không để đứt gãy, đặc biệt, không để đứt gãy chuỗi cung ứng của thế giới với Việt Nam.

Đây là một trong những thách thức rất lớn với Việt Nam khi cước vận tải biển tăng đột biến từ năm 2021, giá container tăng cao, thậm chí không có hãng tàu biển để thuê, khiến doanh nghiệp khốn khổ.

“Cần xây dựng các thể chế và chính sách hỗ trợ thúc đẩy đầu tư và liên kết đầu tư giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Đồng thời, quyết liệt và nhanh hơn các gói kích thích kinh tế đã được thông qua trong Nghị quyết 11, bên cạnh gói đầu tư cơ sở hạ tầng thì các gói cho vay hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ xây nhà ở xã hội cho người lao động, các biện pháp miễn giảm thuế/phí cho nhóm đối tượng cụ thể, cần được đẩy mạnh hơn nữa”, VEPR khuyến nghị.

Chính sách tài khóa giữ vai trò chủ đạo

TS. Trần Toàn Thắng, Trưởng ban Dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia cho rằng, chính sách tài khóa được thiết kế giữ vai trò chủ đạo trong Chương trình phục hồi kinh tế, kết hợp hài hòa với chính sách tiền tệ, để tạo ra các nguồn lực tốt nhất hỗ trợ nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn, sớm hồi phục và phát triển.

“Gói đầu tư công là gói tài khóa khá quan trọng trong chương trình, được kỳ vọng rất lớn có thể mang lại hiệu ứng tốt, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên, việc giải ngân vốn từ đầu tư công từ chương trình vẫn chưa được triển khai do một số vấn đề về thủ tục phê duyệt dự án và bố trí nguồn lực”, ông Thắng nhấn mạnh.

Chính sách giảm thuế VAT (từ 10% xuống 8%) dự kiến sẽ trực tiếp làm giảm thu NSNN khoảng 49.400 tỷ đồng. Chính sách giảm thuế VAT là chính sách rất phù hợp lúc này, với ba tác động tích cực chính gồm giúp giảm áp lực lạm phát thông qua giữ ổn định mặt bằng giá, kích thích cầu tiêu dùng, kích thích doanh nghiệp gia tăng sản xuất kinh doanh.

Chính sách giảm thuế bảo vệ môi trường 2.000 đồng/1 lít xăng được đánh giá là một biện pháp phù hợp giúp giảm áp lực tăng giá đối với xăng dầu trong nước do tác động của việc tăng mạnh giá dầu trên thị trường thế giới, qua đó giảm chi phí sản xuất, chi phí vận tải và giảm áp lực lên lạm phát.

Về chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, cộng đồng doanh nghiệp cũng đánh giá cao chính sách này đối với các khoản vay thương mại của các ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp trong các ngành nghề trọng tâm, ưu tiên kỳ vọng triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2% sẽ giúp tháo gỡ “rào cản” về vốn, lãi suất cao, chi phí, từ đó kinh doanh sẽ thuận lợi hơn.

Những vấn đề cần lưu tâm

PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Phó trưởng bộ môn Phân tích chính sách tài chính, Học viện Tài chính đã đề cập đến một số nguy cơ với nền kinh tế chưa được thảo luận nhiều.

Cụ thể chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng rất mạnh gây áp lực lên lạm phát. Ngoài ra, Trung Quốc tiếp tục chính sách Zero-Covid cũng sẽ ảnh hưởng cực lớn đến lạm phát của Việt Nam khi rất nhiều hàng hóa nhập khẩu đầu vào và hàng hóa tiêu dùng của Việt Nam liên quan đến Trung Quốc và thế giới.

“Một số báo cáo mới đây còn nhận định tác động của việc Trung Quốc duy trì chính sách Zero-Covid còn lớn hơn cả tác động xung đột Nga-Ukraine. Bởi Trung Quốc là công xưởng của thế giới, chiếm 12,6% tổng thương mại toàn cầu”, ông Cường nhấn mạnh.

Một rủi ro khác nữa cần đặc biệt lưu tâm, theo ông Cường là tổng cầu của Việt Nam đang phục hồi rất chậm. Và với việc tổng cầu phục hồi chậm như vậy, khả năng đạt được tăng trưởng cao là rất khó và nhận định nếu không có biện pháp tăng tổng cầu thì nguy cơ tăng trưởng dưới 6-6,5% là hiện hữu.  

Vấn đề thiếu hụt lao động lành nghề trong tất cả các lĩnh vực cũng được ông Cường nhắc đến, khi trong dịch bệnh nhiều người phải chuyển nghề, giáo viên mầm non đi bán hàng online, quản trị du lịch khách sạn thành Grab. Năng suất lao động tổng hợp của Việt Nam cũng đang giảm nên theo ông Cường khi nền kinh tế hồi phục trở lại, cần có biện pháp cụ thể cải thiện vấn đề lao động.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500