Niềm tin và khát vọng Việt

08:10 | 24/01/2020

Bất chấp kinh tế thế giới giảm tốc mạnh và tiềm ẩn nhiều rủi ro, song năm 2019 tiếp tục là một năm đặc biệt thành công của kinh tế Việt Nam khi đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra. Song vì thế mà chúng ta không ngủ quên trên chiến thắng bởi năm 2020 dự báo kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức từ cả bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Vậy, chúng ta cần làm gì để kinh tế Việt Nam tiếp tục “cất cánh”. 

Thời báo Ngân hàng xin trích dẫn ý kiến, khuyến nghị chính sách của các chuyên gia trong nước và quốc tế.

TS. Trần Du Lịch - Thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ: Gỡ điểm nghẽn thể chế để tạo sức bật cho nền kinh tế

 Có thể khẳng định kinh tế Việt Nam đạt kết quả rất ấn tượng trong năm 2019. Một là tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP đạt 6,8%, một mức tăng trưởng mà đầu năm không một cơ quan nào dám dự báo. Kết quả rất ấn tượng nữa là điều hành chính sách tiền tệ rất đúng đắn. Trước biến động thế giới như vậy nhưng tỷ giá vẫn giữ được ổn định và điều hành theo thị trường.

Hai là, lạm phát thấp hơn nhiều so với mục tiêu 4%. Ba là, chúng ta lo lắng sợ tăng tín dụng thấp không đáp ứng được nhu cầu nền kinh tế, nhưng phải nói rằng mức tăng tín dụng đáp ứng yêu cầu đầu tư, tức là phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, chứng tỏ hiệu quả tăng lên.

Nói chung hệ thống tài chính-ngân hàng được củng cố tốt hơn trong những năm trước đây... Không chỉ năm 2019 mà suốt từ năm 2016 đến nay, những nỗ lực điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nhiều chỉ tiêu đạt tốt hơn cả chúng ta kỳ vọng.

Tuy nhiên, những vấn đề mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong năm qua có thể còn kéo dài trong năm 2020 cũng như nhiều năm nữa, cần phải nhanh chóng giải quyết triệt để. Đó là hiện nay hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư... đang chồng chéo. Điểm nghẽn về thể chế, thủ tục vẫn còn; giải ngân đầu tư công chậm, phê duyệt các dự án đầu tư kể cả khu vực tư nhân liên quan đến đất, quy hoạch đều chậm trễ và khó khăn. Theo tôi, trong năm 2020 nếu không tập trung giải quyết được những điểm nghẽn này sẽ khiến cho nền kinh tế không hấp thụ được vốn.

Điểm thứ hai, mặc dù chủ trương khuyến khích phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là đúng đắn và bản thân tôi nhiều năm nay cũng mong muốn đề xuất phát triển thị trường này, nhưng cũng phải dè chừng những rủi ro, nhất là trái phiếu doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản, vì họ thường đánh vào tâm lý ham lãi suất cao của nhà đầu tư.

Về kinh tế thế giới, những bất ổn, rủi ro tiềm ẩn vẫn còn nguyên. Chính vì vậy năm 2020 các tổ chức quốc tế đều đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần. Trong khi Việt Nam là quốc gia có năng suất lao động và năng lực cạnh tranh còn thấp trong khu vực các nhóm ASEAN 6+. Những vấn đề căn cơ như vậy, dù chúng ta có tiến bộ, nhưng nếu không khéo léo trong điều hành chính sách thì rủi ro vĩ mô vẫn hiện hữu.

Mặc dù kinh tế năm 2020 mức tăng trưởng có thể thấp hơn 2019 nhưng nhìn chung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (2016 – 2020) Việt Nam đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, không nên đề cao mục tiêu 2020 đạt được mức tăng trưởng 6% hay 7% mà quan trọng nhất là cần nhanh chóng tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế. Nếu gỡ được hết những điểm nghẽn đó, tôi cho rằng, sẽ tạo sức bật cho những năm sau cao hơn.

TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia: Niềm tin và khát vọng Việt vươn lên

Chính sách vĩ mô nói chung có nhiều điểm tích cực trong năm 2019. Các mục tiêu then chốt nhất đều được cải thiện, rõ nhất là lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, điều hành chính sách tiền tệ ngày càng thông minh hơn, theo đó vừa giải quyết vấn đề về cung tiền, tín dụng luôn gắn với ổn định, vừa đảm bảo thanh khoản của hệ thống, đồng thời phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng với chính sách tài khóa, tạo điều kiện thuận lợi trong phát hành trái phiếu Chính phủ...

Tỷ giá ổn định nhất so với nhiều nước trong khu vực trước bối cảnh chịu không ít áp lực từ thị trường thế giới kể cả áp lực giải trình về phía Hoa Kỳ. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã “chia lửa” với hệ thống ngân hàng là những tín hiệu tích cực. Điểm tích cực nữa là câu chuyện chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo của bản thân TCTD, định chế tài chính.

Năm 2020, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động theo hướng rủi ro gia tăng, tăng trưởng được đa số các tổ chức lớn dự báo sẽ vẫn tiếp đà đi xuống dù cho chiến tranh thương mại Mỹ - Trung có tiếp tục hay ngừng. Trong nước, tốc độ cải cách của Việt Nam vẫn còn đang rất chậm, trong đó nổi cộm là vấn đề cải cách cơ cấu DNNN, các vấn đề bức xúc xã hội, chống tham nhũng…

Với hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam, mặc dù đã có nhiều bước tiến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: Basel II vẫn là thách thức với nhiều ngân hàng, vấn đề xử lý một số ngân hàng yếu kém, nợ nhóm 4 - 5 còn cao tại một số ngân hàng...  Trong bối cảnh đó, chúng ta phải bám sát diễn biến tình hình thế giới và có một chính sách tiền tệ đủ linh hoạt để ứng phó, đặc biệt phải lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm trọng.

Mặc dù thách thức nhiều, nhưng với việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô 5 năm gần đây giúp dự trữ ngoại tệ liên tục tăng, thâm hụt ngân sách dưới 3,6% GDP, lạm phát dưới 4%, Việt Nam đang có nhiều thuận lợi và dư địa để ứng phó với sự biến động của thị trường. Bên cạnh yếu tố ổn định chính trị, dân số trẻ, cải cách… thì một trong những điều tạo ra sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài đó chính là sợi dây liên hệ của Việt Nam với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Cùng với nỗ lực cải cách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Chính phủ kiến tạo, hoàn thiện khung khổ pháp lý Luật Đầu tư công, chính sách tiền tệ tiếp tục là trụ cột cho tăng trưởng, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng tốt, dù có thể thấp hơn so với năm trước một chút.

Tôi cho rằng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 sẽ hoàn thành với mức 6,5% hoặc cao hơn. Nhưng nếu muốn có bước chuyển vững chắc hơn trong giai đoạn tới, theo tôi đây là thời điểm nhìn lại 5 năm qua để xem tăng trưởng ổn định chưa, tái cấu trúc nền kinh tế cùng với hội nhập đã thể hiện như thế nào, thực sự chuyển về chất hay chưa, tốt xấu ra sao và bên cạnh tăng trưởng còn câu chuyện về các vấn đề văn hóa - xã hội; phát triển bền vững…

Đâu đó tôi đã thấy sự thay đổi mạnh về tư duy, tầm nhìn của Đảng, Chính phủ, Nhà nước thể hiện qua việc ban hành các chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025 định hướng năm 2030, Nghị quyết của Bộ Chính trị về cách mạng 4.0... 

Chúng ta đừng ngại thay đổi, vì nếu tạo môi trường kinh doanh tốt, cộng hưởng thêm nhiều yếu tố “thiên thời” thuận lợi, tôi tin, người dân, DN họ sẽ làm không chỉ vì bản thân mà còn vì lợi ích của đất nước, dân tộc. Dân giàu, nước mạnh, tôi nghĩ đó không phải là khẩu hiệu, mà là khát vọng Việt để chúng ta vươn lên, không chỉ bắt kịp mà còn là đi cùng với thế giới. 

TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia: Ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm

Để đạt những mục tiêu theo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, Chính phủ cần tiếp tục “rất quyết liệt” trong điều hành, sớm khắc phục các điểm nghẽn và củng cố các động lực tăng trưởng từ nội tại. Cụ thể, chúng ta cần theo dõi sát sao rủi ro bên ngoài, đánh giá tác động của diễn biến căng thẳng thương mại, địa chính trị thế giới và xây dựng các kịch bản dự báo ứng phó chủ động, kịp thời. Phải chủ động đa dạng hóa quan hệ đầu tư, thương mại với các thị trường mới, tiếp tục duy trì và thúc đẩy mối quan hệ với các thị trường truyền thống...

Ổn định kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm thông qua nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách, nhất là giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và giá cả. Trong đó chú trọng liều lượng và thời điểm cung tiền trong nền kinh tế nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát giá cả các mặt hàng Nhà nước quản lý, xây dựng kịch bản điều hành giá chi tiết cho từng mặt hàng và đánh giá tác động chung đến chỉ số giá trong từng thời điểm. Như vậy chúng ta mới có thể điều chỉnh phù hợp nhằm kiểm soát lạm phát mục tiêu ở mức khoảng 3,5%.

Đồng thời, theo sát, phân tích và dự báo diễn biến thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế để có thể sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, tỷ giá và thị trường ngoại hối.

Trong năm 2020, phải tiếp tục hoàn thiện thể chế và cải thiện thực chất môi trường kinh doanh, tiến tới coi đây là một tiêu chí KPI hoàn thành nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ, quản lý tài sản ảo, tiền ảo, Fintech, mobile money, cho áp dụng cơ chế Sandbox… cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, hết sức chú trọng đến tính minh bạch và giải trình. Bên cạnh đó, cần tiếp tục xác định và đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới, sáng tạo là một trong 4 đột phá chiến lược của quốc gia. 

Nâng cao hiệu quả đầu tư công và nâng cao tác động lan tỏa của các dự án lớn đối với phát triển kinh tế. Theo tôi phải thực hiện đồng bộ các biện pháp như xây dựng và hoàn thiện các quy định, thể chế về quản lý đầu tư công, nhất là những vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn thi hành. Về huy động nguồn vốn đầu tư, cần đẩy mạnh đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) đồng thời thúc đẩy nhanh thực hiện chủ trương xã hội hóa đối với các dịch vụ công cộng, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, cung cấp dịch vụ tiện ích...

PGS-TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo - Trưởng khoa Tài chính, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh: Đảm bảo khu vực tài chính ngân hàng làm tốt vai trò 

 Trong năm 2019, cuộc chiến tranh Mỹ - Trung diễn biến rất phức tạp làm cho tỷ giá đồng USD, nhân dân tệ biến động mạnh; cộng với áp lực từ hàng hóa các nước nhất là từ Trung Quốc, rồi áp lực thương chiến... Nhưng bức tranh kinh tế Việt Nam có nhiều điểm sáng và đạt được một số thành tựu.

Theo đó, lạm phát tiếp tục được kiểm soát, tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt chỉ tiêu đề ra. Điểm sáng nữa là NHNN cũng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục. Dự trữ ngoại hối lớn và lạm phát nằm trong biên độ đã giúp NHNN đủ cơ sở, đủ sức mạnh để giữ ổn định tỷ giá. Đây là yếu tố quan trọng đối với sự ổn định vĩ mô của Việt Nam. 

Sang năm 2020, vẫn còn nhiều vấn đề cần lưu ý. Chẳng hạn như hàng hóa Trung Quốc đội lốt mượn đường Việt Nam sang Mỹ, đòi hỏi phải có phương án đề phòng và có giải pháp mạnh mẽ hơn. Việc Bộ Công thương chậm trễ định nghĩa hàng hóa Made in Vietnam cũng khiến nhiều tình huống không hay xảy ra như câu chuyện Asanzo vừa qua. Cuộc thương chiến Mỹ - Trung chưa có xu hướng rõ rệt cũng là áp lực cho Việt Nam trong năm 2020.

Bên cạnh đó, hiện khu vực ngân hàng đang quyết liệt tái cấu trúc với lộ trình áp dụng chuẩn Basel II. Đây là vấn đề phải lưu ý và cần có chính sách vĩ mô linh hoạt hơn, đảm bảo khu vực tài chính ngân hàng làm tốt vai trò bộ đệm cho nền kinh tế. 

Ông Ngô Đăng Khoa - Giám đốc Toàn quốc Khối Kinh doanh tiền tệ và Thị trường vốn, HSBC Việt Nam: Cần nhiều cải cách hơn nữa

Không như nhiều nền kinh tế châu Á khác vốn gặp nhiều thách thức để duy trì tăng trưởng trong bối cảnh suy giảm thương mại toàn cầu và các rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong năm 2019 và quan trọng hơn, tăng trưởng được duy trì chủ yếu do khu vực sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng bán lẻ. Chúng tôi kỳ vọng mức tăng trưởng sẽ được duy trì một cách bền vững trong điều kiện vốn FDI đang và sẽ tiếp tục đổ vào nền kinh tế. 

Về điều hành chính sách tiền tệ, NHNN đã có một năm thành công khi sử dụng các chính sách hợp lý, linh hoạt để ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát qua đó góp phần quan trọng trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời vẫn hỗ trợ hợp lý cho tăng trưởng. Đặc biệt, dự trữ ngoại hối tăng cao kỷ lục và khi tiền Đồng tiếp tục nằm trong nhóm những đồng tiền ổn định nhất khu vực bất chấp những bất định bên ngoài gia tăng. 

Bước sang năm 2020, nguy cơ giảm tốc tăng trưởng của các nền kinh tế trong khu vực và các đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam có thể dẫn tới suy giảm về cầu, khiến xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng, nguồn thu từ xuất khẩu có thể sẽ không còn được tích cực như trong năm 2019, từ đó tác động tới tăng trưởng chung. Với lạm phát, việc chỉ số CPI có dấu hiệu tăng nhanh trong những tháng cuối năm 2019 cũng là tín hiệu đáng quan sát cho năm sau. Ngoài ra, một trong những thách thức lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam là chi phí trả nợ vay khi Việt Nam không còn nằm trong số các nước được hưởng các khoản vay ưu đãi…

Trong bối cảnh đó, để có thể duy trì tăng trưởng trong những năm tới, Việt Nam cần nhiều cải cách hơn nữa, đồng thời phát triển thị trường vốn nội địa. Thị trường vốn của Việt Nam còn dư địa rất lớn để phát triển nếu chúng ta có và thực hiện đúng những kế hoạch cho trung và dài hạn. Nền kinh tế của Việt Nam cũng đang dần chuyển sang nền kinh tế tập trung vào tiêu dùng, chỉ số niềm tin tiêu dùng cũng thuộc hàng cao nhất trên thế giới. Những điều này đang đem lại vị thế tích cực cho Việt Nam để có thể tận dụng các lợi thế cạnh tranh của mình.

Về tỷ giá, với dự trữ ngoại hối cao, NHNN có đủ công cụ và nguồn lực để điều hành tỷ giá theo hướng ổn định, đáp ứng cung - cầu thị trường, do đó có cơ sở để kỳ vọng tỷ giá tiếp tục được điều hành theo cơ chế linh hoạt và chủ động. Tuy nhiên, vẫn có những thách thức cần quan sát và theo dõi như xu hướng tỷ giá trên thế giới tiếp tục là biến số khó lường trong bối cảnh tình hình địa chính trị trên thế giới liên tục bất định; tác động từ những diễn biến tiếp theo của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung hay vấn đề Brexit … 

Ông Nirukt Sapru - Tổng giám đốc Việt Nam và nhóm 5 nước ASEAN và Nam Á, Ngân hàng Standard Chartered: Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh 

Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu đáng kể trong điều hành kinh tế vĩ mô và duy trì đà tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Chính phủ và NHNN đang làm rất tốt công tác quản lý, điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng, ổn định lãi suất và tỷ giá cũng như giải quyết nợ xấu, qua đó đảm bảo sự ổn định của thị trường, tăng cường tính cạnh tranh trong xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và cải thiện niềm tin trong cộng đồng. Đây là những yếu tố quan trọng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. 

Chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ giữ vững vị thế là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á trong thời gian tới. Bất chấp những bất ổn trong thương mại toàn cầu, chúng tôi dự đoán tăng trưởng của Việt Nam sẽ đạt 7% vào năm 2020 – mức tăng trưởng mà rất ít nền kinh tế đạt được. 

Dù có vẻ như đã đạt đỉnh trong năm 2018, dòng vốn FDI dự kiến sẽ duy trì ở mức cao trong năm 2020. Chúng tôi dự báo vốn FDI đăng ký và thực hiện sẽ đạt gần 15 tỷ USD vào năm 2020. Tăng trưởng xuất khẩu dự kiến sẽ duy trì ổn định. Tuy nhiên, cần chú ý tăng cường các biện pháp đảm bảo tuân thủ các quy định thương mại để ngăn chặn các hành vi lách luật – đây cũng là điều Việt Nam đang chủ động thực hiện. Lạm phát dự báo sẽ tăng nhẹ đạt trung bình khoảng 4% trong năm 2020, tuy nhiên, đây không phải là điều đáng quan ngại.

Nguyễn Vũ – Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050