Nợ công và nỗ lực giảm đỉnh

08:55 | 25/12/2019

Nợ công giảm ngoài nỗ lực điều hành, áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ, còn có nguyên nhân là giải ngân vốn đầu tư công chậm...

Tốc độ tăng nợ công giảm, ngân sách ngày càng bền vững hơn
Nợ công Việt Nam đang chuyển biến theo hướng tích cực
Ảnh minh họa

Nợ công giảm gần 8 điểm % 

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, do ngân sách yêu cầu lớn, Việt Nam vẫn phải bội chi và nợ công, nhưng tốc độ tăng vay đã giảm hơn một nửa. Tỷ lệ nợ công so với GDP các năm qua đều đạt kế hoạch và giảm rất sâu. Nếu như trong giai đoạn 2011 - 2015 tốc độ tăng nợ công là 18,6%, cao gấp 3 lần so với tăng trưởng kinh tế; thì đến giai đoạn 2016 - 2019 tốc độ tăng nợ công chỉ ở mức hơn 8%.

Trong Báo cáo điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam mang tên “Bước chuyển về tài chính” vừa được công bố tuần trước, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, một trong những điểm tích cực của Việt Nam là nợ công đã giảm gần 8 điểm % GDP so với năm 2016. “Chính sách tài khóa và tiền tệ đều được duy trì thận trọng, khiến lạm phát trong nước giảm và nợ công giảm còn khoảng 56,1% GDP vào cuối năm 2019, từ mức 63,7% GDP năm 2016”, WB nhận định. Dự tính năm 2020 nợ công giảm còn 54,3% GDP và năm 2021 ước còn khoảng 53,3% GDP.

Nợ công giảm ngoài nỗ lực điều hành, áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ, còn có nguyên nhân là giải ngân vốn đầu tư công chậm. “Nếu giải ngân vốn vay theo đúng kế hoạch thì nợ công không chỉ ở mức 56% GDP mà có thể tăng thêm từ 1,7-1,8% GDP nữa”, ông Ousmane Dione - Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam nhận định.

Bộ Tài chính cũng dự kiến đến cuối năm 2019 các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép và tiếp tục có xu hướng giảm như năm 2018. Để đảm bảo tài khóa bền vững và giảm đỉnh nợ, Bộ Tài chính đã chủ động thực hiện linh hoạt hàng loạt các biện pháp tái cơ cấu nợ, giảm nợ nước ngoài.

Hiện nợ công chủ yếu là trái phiếu Chính phủ vay trong nước. Nợ Chính phủ bằng 49,2% GDP. Kỳ hạn trái phiếu được kéo dài, lãi suất giảm sâu. Ở giai đoạn 2012 - 2013 kỳ hạn bình quân của trái phiếu vay trong nước chỉ 3 năm đến nay là hơn 13 năm. Những năm 2011 - 2013 có những khoản vay lãi suất từ 12 - 13%/năm, kỳ hạn vay 3 năm thì đến năm 2017 - 2019 vay bình quân đã lên đến 12 - 13 năm, nhưng lãi phải trả là 4,6 - 4,7%/năm. Bộ Tài chính cũng chủ động phát hành trái phiếu quốc tế mới để mua lại nợ gốc 2 khoản trái phiếu quốc tế đã phát hành trong các năm 2010 và năm 2005, giãn nghĩa vụ trả nợ gốc cho ngân sách khi đến hạn trái phiếu quốc tế vào năm 2015 và 2020. “Đây là kết quả rất tốt”, người đứng đầu ngành tài chính nhận định. 

Quản lý nợ để đảm bảo tài khóa bền vững

Mặc dù tỷ lệ nợ công so với GDP đã có xu hướng giảm, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, còn một số vấn đề thực tế đặt ra có tác động đến sự an toàn của nợ công tại Việt Nam.  Theo các chuyên gia tài chính, nợ công và ngân sách nhà nước sẽ còn chịu tác động không nhỏ từ việc xử lý tài chính một số DNNN, cam kết bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng như nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Vinashin... 

Rủi ro nữa là nghĩa vụ trả nợ của ngân sách đang ngày càng tăng làm gia tăng áp lực trả nợ trong thời gian tới. Nhiều khoản vay trong nước cơ bản sẽ đến hạn sau 5 năm vay, tức là các năm 2020-2021 tới đây. Một số khoản vay ODA, kể cả có lãi và không lãi cũng đến hạn phải trả nợ gốc vào năm 2020... Đồng thời việc Việt Nam tốt nghiệp vốn vay ưu đãi dành cho các nước nghèo và kém phát triển của Hiệp hội Phát triển quốc tế thuộc WB (IDA) kể từ năm 2017, dẫn đến các chỉ tiêu chi phí - rủi ro danh mục nợ Chính phủ, đặc biệt là nợ nước ngoài, có xu hướng kém thuận lợi hơn trước đây.

Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nên tập trung phản ứng chính sách theo hướng tiếp tục cải thiện chất lượng chi tiêu do hiện nay vẫn có yếu kém về hiệu suất phân bổ và tài chính. Để giữ bền vững cho an ninh tài chính quốc gia và nợ công, đã có nhiều ý kiến cho rằng nên kéo trần nợ thấp xuống. Phân tích bền vững nợ năm 2018 do IMF thực hiện cho rằng để đảm bảo bền vững tài khóa và nợ trong dài hạn ngưỡng nợ nên được đặt gần mức 55% GDP. 

Về trần nợ, ông Võ Hữu Hiển - Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính cũng đã nghiên cứu các ngưỡng an toàn nợ cho giai đoạn 5 năm với đánh giá hết sức thận trọng, không chỉ tập trung vào quy mô nợ so với GDP mà còn phải phù hợp với khả năng chi trả nợ của ngân sách nhà nước và ưu tiên tạo thêm dư địa cho đầu tư phát triển. Cho đến nay Việt Nam vẫn thực hiện tốt nghĩa vụ trả nợ. Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu ngân sách nhà nước được duy trì ở mức hợp lý. Đến cuối năm 2018 mức trả nợ chỉ khoảng 15,9%, thấp hơn ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép là mức 25%.

Về quản lý nợ công và tái cơ cấu nợ công từ nay đến cuối giai đoạn 2020 và giai đoạn 5 năm tiếp theo, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ cho biết, bộ sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ. Để phòng ngừa rủi ro thanh khoản cho danh mục nợ công trong bối cảnh cân đối ngân sách cho chi trả nợ còn nhiều khó khăn, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường để triển khai các phương án mua lại, hoán đổi trái phiếu Chính phủ đáo hạn trong các năm 2020 và 2021 tại các thời điểm trung - dài hạn. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ thực hiện hạn mức nợ nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, bảo đảm trong hạn mức được phê duyệt. 

Đáng chú ý theo các chuyên gia, nợ công sẽ không là vấn đề lớn nếu kinh tế vẫn tăng trưởng tốt.

Linh Đan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950