Tăng trưởng khả quan 6,0-6,3%, kinh tế Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro

15:26 | 20/04/2021

Kinh tế Việt Nam trong quý I/2021 giữ mức tăng trưởng 4,48% từ quý IV/2020, cao hơn mức tăng trưởng cùng kỳ năm 2020 (3,82%). Trong quý I/2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,30%; khu vực dịch vụ tăng 3,34%. Thông tin trên  do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) công bố tại Tọa đàm Công bố Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý I/2021 ngày 20/4, tại Hà Nội. 

PGS.TS Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng VEPR dự báo, với điều kiện dịch Covid-19 được khống chế ổn định ở trong nước và kinh tế thế giới dần ổn định, kinh tế Việt Nam năm 2021 có thể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 6,0-6,3%.

Nhiều yếu tố thúc đẩy tăng trưởng

Theo PGS.TS Phạm Thế Anh, những yếu tố có thể hỗ trợ cho tăng trưởng bao gồm: Chính phủ kiểm soát tốt dịch bệnh từ giai đoạn sớm giúp duy trì hoạt động kinh tế trong nước; kỳ vọng về triển vọng kinh tế do việc hoàn tất ký kết Hiệp định Thương mại tự do và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA và IPA) đem lại; tiến độ giải ngân và thi công các dự án đầu tư công trọng điểm được đẩy nhanh hơn; làn sóng dịch chuyển đầu tư và thương mại nhằm phân tán rủi ro từ cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung; môi trường vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soát được ở mức chấp nhận được, tạo môi trường cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ tăng trưởng.

tang truong kha quan 60 63 kinh te viet nam van tiem an nhieu rui ro
Theo các chuyên gia, kinh tế tăng trưởng lạc quan nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro

Chuyên gia Cấn Văn Lực cũng đưa ra một số lý do đóng góp cho tăng trưởng kinh tế quý I, trong đó có việc Chính phủ điều hành nhuần nhuyễn, phản ứng tốt hơn với đại dịch so với năm 2020, khiến tác động của dịch đến nền kinh tế không lớn như trước. 

Bên cạnh đó, theo ông Lực, quý I có 3 động lực tăng trưởng chính. Thứ nhất là nông nghiệp, thứ hai là xuất khẩu tốt tăng 24%, cao hơn tốc độ phục hồi toàn cầu chỉ 8%. Cuối cùng là thu hút đầu tư nước ngoài, tăng về đăng ký, bổ sung và giải ngân.

Riêng với khu vực bán lẻ, dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính tăng 5% so với cùng kỳ năm 2020, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 4,42%.

Đối mặt với lệnh giãn cách xã hội ngay trong dịp Tết Nguyên đán, nhiều doanh nghiệp bán lẻ có xu hướng chuyển đổi sang khai thác sâu các kênh mua sắm trực tuyến và tận dụng các kênh giao hàng để đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Nhờ vậy, ngành bán lẻ không chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh tái bùng phát.

Vẫn tồn tại nhiều thách thức

Báo cáo của VEPR cho thấy, nền kinh tế toàn cầu đã có dấu hiệu phục hồi với niềm tin đến từ vaccine Covid-19 nhưng vẫn hàm chứa nhiều bất ổn và thiếu sự đồng đều giữa các quốc gia và lĩnh vực kinh tế.

Việt Nam vì thế cũng đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong một môi trường kinh tế thế giới bất trắc. Sự tái bùng phát của Covid-19 tại nhiều nước đi kèm với các biện pháp phong tỏa kéo dài thời gian đứt gãy của chuỗi cung ứng trong năm 2021 khiến sức chịu đựng của doanh nghiệp ngày càng yếu hơn; xung đột địa chính trị giữa các nước lớn có thể khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đối diện những rủi ro bất ngờ.

Bên cạnh đó, điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tại như mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng, còn chậm cho hiệu quả quản lý thấp; sức khỏe hệ thống ngân hàng - tài chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ tổn thương; sự phụ thuộc nặng nề của tăng trưởng vào khu vực FDI, thiếu tự chủ công nghệ và nguyên liệu…

“Ngoài ra, chất lượng lao động còn khá thấp và tình trạng này cải thiện rất chậm; hiệu quả đầu tư công thấp cùng tình trạng nhũng nhiễu của bộ máy công quyền khá nặng nề. Thời gian qua, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng bị ngưng trệ và môi trường - thể chế kinh doanh dù từng bước được cải thiện nhưng chưa giải phóng được sức mạnh của doanh nghiệp”, ông Thế Anh thẳng thắn đề cập.

tang truong kha quan 60 63 kinh te viet nam van tiem an nhieu rui ro

Cân nhắc những yếu tố tích cực cũng như tiêu cực đang tác động lên nền kinh tế Việt Nam hiện nay, PGS.TS Phạm Thế Anh nhấn mạnh, việc thành lập bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước mới, với Chính phủ mới, hứa hẹn một triển vọng kinh tế năng động trở lại trong năm 2021 và sau đó.

Hơn nữa, với điều kiện dịch Covid-19 tiếp tục được khống chế ổn định ở trong nước và kinh tế thế giới bắt đầu khởi sắc do các biện pháp phong tỏa dần được gỡ bỏ, VEPR dự báo, kinh tế Việt Nam năm 2021 có thể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 6,0-6,3%.

VEPR khuyến nghị tiếp tục ưu tiên các chính sách xã hội cho người dân. Việc ngưng, miễn giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp như lãi vay, tiền thuê đất cần tiếp tục được triển khai, bên cạnh đó cần cân nhắc cắt giảm kinh phí công đoàn để hỗ trợ doanh nghiệp.

Với nhóm doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, nên khuyến khích tín dụng, tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành. Trong trường hợp có các ý tưởng chính sách để hỗ trợ đặc biệt cho các doanh nghiệp cụ thể, thì các chính sách này cần đi theo hướng kích cầu, hỗ trợ người tiêu dùng thanh toán chi phí mua sản phẩm/dịch vụ của hãng, thay vì tài trợ trực tiếp cho hãng.

Lưu ý về bong bóng tài sản                  

Báo cáo cũng cho rằng chính sách tiền tệ, cụ thể là công cụ lãi suất sẽ giảm hiệu quả đáng kể trong năm 2021. Đặc biệt, các cấp quản lý cần lưu ý tình trạng bong bóng tài sản đang hình thành trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.

Thời gian qua, các thị trường tài sản đã có sự tăng trưởng đáng kể với lý do chủ yếu vì đây là nơi trú ẩn cho khoản tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư và hộ gia đình.

“Điều này có thể hiểu được trong giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, việc lãi suất huy động tiền gửi liên tục hạ do cầu tín dụng giảm đang đẩy dòng tiền tiết kiệm ra khỏi ngân hàng ngày càng nhanh hơn”, ông Thế Anh nói.

Mặt khác, ông Thế Anh phân tích khi mức tăng giá trên các thị trường tài sản đủ lớn để tạo ra hiệu ứng của cải (wealth effect) thì mức tiêu dùng sẽ tăng đối với các mặt hàng không phải thiết yếu. Điều này dẫn tới sự lan tỏa của sự tăng giá từ thị trường tài sản sang thị trường tiêu dùng, dù chậm chạp, nhưng có thể cảm nhận được.

Thái Hoàng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900