Tết quê xưa
Làng tôi thuộc vùng trung du, đồi núi chen nhau, lớp nọ nối lớp kia. Dạo ấy đại ngàn còn nhiều cây cổ thụ. Bìa rừng ngoài, lớp cây lúp xúp khá nhiều. Những người nghèo ngày giáp Tết vẫn phải vào rừng, ra chợ để kiếm một cái Tết nho nhỏ, với mâm cỗ cúng có thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh…
![]() |
Riêng gia đình tôi, khoảng sau Tết ông Công ông Táo, cha tôi đã lựa một cây tra cao nhất bụi, phạt hết lá… Trên đỉnh ngọn là một vòng tròn nhỏ, chung quanh treo hình cắt các ông Phúc, Lộc, Thọ, hình chiếc khánh, mặt trống đồng… Cây nêu dựng lên cùng với những cây nêu khác ở trong làng, đã đem không khí Tết sớm nhất đến với mọi người…
Khoảng 27, 28 Tết Âm lịch, mẹ tôi chuẩn bị gói bánh chưng. Người gói hai loại, loại bánh tày và loại bánh vuông. Nếp cái hoa vàng được người chọn hết những hạt gạo tẻ. Đậu xanh được xay vỡ, ngâm đãi sạch vỏ rồi nấu chín, giàn ra mâm, dùng dao rạch thành những thỏi đỗ dài để gói bánh tày. Với bánh chưng vuông, đỗ chín không rạch thỏi mà để những mảng dày khoảng một xăng-ti-met, thịt lợn thái khổ to, thường là thịt ba chỉ, ngâm với nước mắm hạt tiêu.
Bánh tày gói bằng lá chít, xếp khít bên nhau, hai hàng. Lạt giang đặt ở dưới. Gói bánh tày, chiếc lạt giữa phải thít chặt để những lạt sau dàn đều gạo khiến chiếc bánh chỗ nào cũng tròn như nhau. Hai đầu gập lá thật khéo để chiếc bánh miếng đầu cũng đẹp gần như miếng giữa.
Chiếc nồi ba mươi được bắc trên ba ông đầu rau bằng đất nung, có đệm rơm và đậy bằng chiếc mâm gỗ cũ…
Bánh vuông gói bằng lá dong. Có người xếp bằng bốn chiếc lá, hai to, hai nhỏ. Lá nhỏ ngắn hơn lá to chừng một xăng-ti-met… Đổ bát gạo đầu, tiếp đến đặt đỗ chín, thịt rồi lại đỗ, sau đó đổ gạo nếp lên, san cho đều ra bốn góc rồi gập lá lại theo hình chữ X.
Những củi gộc lớn đã được chất trong bếp, người ta dùng rơm, hoặc những túm củi nhánh khô, dễ cháy để nhóm bếp. Đổ nước vào cho ngập bánh. Bên cạnh bếp để những ấm nước để nếu nước trong nồi bánh cạn thì tiếp thêm.
Nồi bánh chưng từ lúc bắt đầu nổi lửa cho đến lúc chín ít nhất cũng phải nấu từ 8 đến 9 tiếng đồng hồ…
Khi bắc ra, bánh vuông được thả vào chậu thau lớn nước lã rồi vớt ra, đặt lên một tấm ván canh, phía trên là một tấm nữa, bánh xếp thành hai hàng… Đợi cho bánh nguội bớt, mẹ tôi sẽ đặt chiếc cối đá và cối xay đỗ cũng bằng đá để nén… Cứ để thế đến khoảng trước khi đi ngủ, bỏ bớt chiếc cối xay đỗ ra là được…
Khoảng ba mươi Tết, nhà tôi đã chồng chồng những gói mứt tết, bánh qui, mứt lạc, mứt ngũ vị… Đó là những món quà đi chúc Tết họ hàng trong những ngày mồng một, mồng hai…
Cha tôi chăm sóc mâm ngũ quả. Người chọn nải chuối xanh to, quả đều, đặt ở dưới. Phía trên người bày thêm bốn loại quả khác, thường là hồng xiêm màu vàng xậm, na màu xanh nhạt, táo Trung Quốc to màu hồng và dưa lê nhỏ màu trắng…
Khi đã hết việc, cha tôi sai tôi mài mực nho. Người dùng ngọn bút lông viết câu đối, nhấn mực, lật phải, lật trái mấy lần, viết thử vài chữ, bấy giờ người mới khom lưng viết:
Niên tăng phú quý, thân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.
Nghĩa là:
Năm thêm phú quý, người thêm thọ
Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà…
Chiều ba mươi Tết, cha tôi quét sân, quét ngõ thật sạch sẽ. Rác được gom vào thành một đống gọi là đống rấm. Cha tôi châm lửa đốt làm khói xanh bốc lên cao, cùng các đống rấm của các nhà khác bay tản mát khắp các ngõ ngang, ngoài lộ chính như một màn sương mỏng cuối năm.
Mẹ tôi nấu cỗ. Cỗ có thịt gà, thịt lợn, giò, chả. Canh đủ bốn thứ miến, mọc, khoai tây nấu sườn, chân giò ninh…
Cha tôi khấn tổ tiên, ông bà ông vải. Sau đó người lấy một bánh pháo ra đốt. Có tiếng pháo, không khí Tết đã thật rộn ràng.
Mùng Một Tết, cả nhà tôi dậy rất sớm dù đã thức suốt đến tận đêm giao thừa. Những bộ quần áo mới đẹp nhất được đem ra mặc. Người lớn, người trên mừng tuổi cho con, em và người dưới. Những đồng tiền rất mới được đặt vào tay người nhận tiền.
Cha tôi đem lễ ra đình dâng lên Đức Thành hoàng làng tỏ sự tôn kính và cầu phúc cho cả nhà. Mẹ tôi sửa lễ ra chùa cùng các cụ lễ Phật và mong chư Phật từ bi đem điều lành đến với gia đình và mọi người trong làng…
Được tiền mừng tuổi, trẻ con thích nhất là những đồng xu và đồng chinh. Chúng rủ nhau ra đầu ngõ, trước sân đình để đánh đáo…
Sân đình đã bày sẵn một bàn cờ bỏi, các quân cờ tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt đều có cán. Phía trên là tấm bảng lớn bằng bàn tay nền đỏ chữ vàng in rõ tên quân. Quân cờ được cắm vào những chiếc lỗ có sẵn. Người chơi cầm quân đặt vào những lỗ mình muốn đi. Những quân bị ăn được bỏ ra ngoài trước mặt người cầm chịch.
Lại có hai người cầm chiếc trống bỏi, gõ tong tong liên hồi bên tai người chơi để làm họ rối trí. Phải bình tĩnh lắm, phải quan sát kỹ mới đi nổi một nước cờ. Ba vuông lụa điều và hai lạng bạc được để sẵn, dành trao cho nhà vô địch. Người thắng cuộc phải giữ ngôi đầu bảng trong suốt ba ngày. Người trong làng, ngoài làng đều được vào dự…
Tết quê xưa đã trở thành nền nếp. Phong tục đẹp được lưu truyền đến tận ngày nay. Ngày Tết, mọi sự thù ghét, hờn ghen đều được dẹp lại. Người ta đối với nhau hồ hởi, thân thiện. Những lời chúc thật tốt đẹp và chân tình. Trẻ con, người lớn đều vui vẻ, hân hoan.
Cho nên có người từng đã ước ao: Mong sao cả năm ngày nào cũng như ngày Tết…
Tin liên quan
Tin khác
Khi văn hóa – lịch sử “kết duyên” cùng hội họa
Hội đồng Anh khởi động Chương trình tài trợ Kết nối thông qua Văn hóa
Làng cờ Từ Vân tích cực sản xuất phục vụ đại lễ
Kế hoạch triển khai Nghị quyết của Quốc hội về CTMTQG phát triển văn hóa
Sân chơi trong thành phố: Niềm cảm hứng từ nửa vòng trái đất
Thi đua không phải khẩu hiệu, mà là cam kết hành động
Ra mắt Tập 22 Công trình sách “Ký ức người lính”
[Infographic] Chuỗi hoạt động văn hóa đặc sắc tại Phố cổ Hà Nội
Bước đi mới trong giáo dục khai phóng tại Victoria School


