Theo sát “dấu chân carbon”, mở dư địa phát triển bền vững
Từ kiểm kê đến quản trị phát thải
Để giảm được “dấu chân carbon”, trước hết phải xác định lượng khí nhà kính phát sinh ở đâu và từ công đoạn nào. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp chuyển từ việc thống kê số liệu sang chủ động quản trị, lựa chọn những khâu cần ưu tiên cải thiện và tính toán nguồn lực cho quá trình chuyển đổi.
TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững cho biết, “dấu chân carbon” phản ánh tổng lượng khí nhà kính phát sinh trong toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm, thường được quy đổi về tấn CO2 tương đương. Nguồn phát sinh không chỉ nằm tại nhà máy mà trải dài từ năng lượng, nguyên liệu, phân bón, bao bì đến vận chuyển, bảo quản và các mắt xích trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, dữ liệu được đo lường, kiểm chứng đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp nhận diện những khâu tiêu tốn nhiều năng lượng, tài nguyên, từ đó lựa chọn giải pháp phù hợp về công nghệ và tổ chức sản xuất.
Ông Kenji Tomita, đại diện Công ty Nippon Koei Co., Ltd. nhận định, hệ thống kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn thực thi, với số cơ sở thuộc danh mục tăng từ 2.166 năm 2024 lên 2.441 năm 2026. Các đơn vị trong diện điều chỉnh không chỉ có trách nhiệm tính toán, báo cáo mà còn phải xây dựng kế hoạch và triển khai các biện pháp giảm nhẹ.
Nhìn vào cơ cấu danh mục mới, lĩnh vực Công Thương có 1.916 trong tổng số 2.441 cơ sở phải thực hiện kiểm kê, chiếm 78,49%, tập trung ở nhiều ngành sử dụng nhiều năng lượng như nhiệt điện, luyện kim, hóa chất, phân bón, dệt may, da giày, chế biến nông - lâm - thủy sản, khai thác than, dầu mỏ và khí tự nhiên. Tỷ trọng lớn của nhóm này cho thấy sức ép chuyển đổi đang hiện hữu rõ hơn ở những lĩnh vực có cường độ sử dụng năng lượng cao. Đồng thời, đây cũng là khu vực có khả năng tạo ra những thay đổi đáng kể thông qua đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và tối ưu quy trình sản xuất.
Cùng với Quyết định 42/2026/QĐ-TTg, các quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP đang từng bước đưa quản lý khí nhà kính đi sâu vào hoạt động sản xuất. Kiểm kê vì thế không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn tạo nền tảng dữ liệu để doanh nghiệp tính toán các quyết định về công nghệ, năng lượng và đầu tư trong dài hạn.
![]() |
| Sự hình thành của thị trường carbon đang mở rộng ý nghĩa của quản trị phát thải từ nghĩa vụ tuân thủ sang bài toán kinh tế |
Lượng hóa carbon để thêm giá trị kinh tế
Cùng với yêu cầu kiểm kê, sự hình thành của thị trường carbon đang mở rộng ý nghĩa của quản trị phát thải từ nghĩa vụ tuân thủ sang bài toán kinh tế. Khi kết quả cắt giảm được đo lường, kiểm chứng và xác lập giá trị, carbon từng bước trở thành một yếu tố được tính đến trong quyết định đầu tư và chiến lược chuyển đổi của doanh nghiệp.
Theo ông Kenji Tomita, thị trường carbon Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn xây dựng chính sách sang giao dịch thí điểm. Từ ngày 29/6/2026, hoạt động này được khởi động tại sàn giao dịch quốc gia đặt tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, với hai loại tài sản gồm hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Việc đưa carbon vào cơ chế giao dịch vừa đòi hỏi dữ liệu đủ tin cậy, vừa mở ra khả năng lượng hóa giá trị kinh tế của kết quả cắt giảm.
Ở góc độ vận hành, TS. Nguyễn Phương Nam, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn và Dịch vụ Đổi mới Khí hậu KLINOVA cho rằng, cần xem xét mối quan hệ giữa người mua, người bán và các đơn vị trung gian trong giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon. Trong giai đoạn thí điểm, 110 doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực xi măng, sắt thép và nhiệt điện được lựa chọn tham gia. Những đơn vị chủ động đưa lượng khí nhà kính xuống thấp hơn hạn ngạch được phân bổ không chỉ giảm áp lực tuân thủ mà còn có cơ hội khai thác giá trị kinh tế từ kết quả cắt giảm. Ngược lại, khi vượt hạn ngạch, doanh nghiệp phải mua tín chỉ hoặc đầu tư các giải pháp công nghệ, quản lý; trong đó tín chỉ carbon được sử dụng để bù tối đa 30% phần vượt mức. Cơ chế này tạo thêm căn cứ để doanh nghiệp cân nhắc giữa chi phí phát thải và nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi.
Khả năng lượng hóa giá trị carbon cũng mở rộng ra ngoài khu vực công nghiệp. Trong lâm nghiệp, tín chỉ có thể được hình thành từ giảm phát thải hoặc gia tăng khả năng hấp thụ thông qua hạn chế mất rừng, nâng cao chất lượng rừng, kéo dài chu kỳ khai thác và thay đổi phương thức sản xuất. Tuy nhiên, kết quả này phải đáp ứng các yêu cầu về đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh. Khi đủ điều kiện, nguồn lực từ carbon có thể góp phần hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và cải thiện sinh kế của cộng đồng phụ thuộc vào rừng.
Không chỉ đến từ cơ chế trong nước, động lực giảm phát thải ngày càng hiện diện rõ trong các thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng toàn cầu. Ông Lê Đức Huy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Simexco Đắk Lắk cho biết, yêu cầu của các nhà thu mua quốc tế vừa tạo áp lực, vừa mở ra cơ hội. Nhiều tập đoàn đang xây dựng lộ trình đưa phát thải về “0” vào năm 2050 và sẵn sàng hỗ trợ nông dân từ thay đổi phân bón, cải tiến quy trình đến tài chính cho chuyển đổi. Quá trình xanh hóa chuỗi cung ứng vì thế không chỉ đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức sản xuất mà còn mở ra khả năng tiếp cận thêm nguồn lực, công nghệ và hỗ trợ tài chính.
Xu hướng này càng rõ khi các tiêu chuẩn môi trường đi sâu vào từng mắt xích của chuỗi giá trị. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), chẳng hạn, yêu cầu sản phẩm nhập khẩu, trong đó có cà phê, phải chứng minh không gây mất rừng, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Minh bạch dữ liệu vì vậy không còn dừng ở doanh nghiệp xuất khẩu mà phải mở rộng tới nhà cung cấp, vùng nguyên liệu và nông hộ.
Ở góc độ đầu tư - tài chính, dữ liệu minh bạch và kết quả cắt giảm được kiểm chứng cũng tạo thêm cơ sở để nhìn nhận giá trị và năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp. TS. Nguyễn Phương Nam nhận định, giá trị doanh nghiệp không chỉ nằm ở tài sản hữu hình mà còn được cấu thành từ năng lực quản trị, thương hiệu và các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Những kết quả được lượng hóa rõ ràng vì thế có ý nghĩa trong việc chứng minh hiệu quả chuyển đổi, thay vì chỉ dừng ở các cam kết mang tính định hướng.
Tin liên quan
Tin khác
Bãi đỗ xe Hà Nội trước bài toán tích hợp trạm sạc
Hạ tầng logistics: Cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang kết nối theo dòng hàng
Triển vọng kinh tế Việt Nam: Động lực nào cho chặng cuối năm?
Cần thước đo mới cho chất lượng tăng trưởng
Gỡ 'nút thắt' để khoa học công nghệ bứt phá
Chuyển đổi số quốc gia: Khi dữ liệu chưa được “đánh thức”
Mở lối kinh tế xanh từ giá trị thiên nhiên
Dữ liệu - nền tảng để phát triển đô thị thông minh
Từ lợi thế năng lượng đến hệ sinh thái công nghiệp xanh liên vùng



