Thị trường hàng hóa: Giá dầu xuống mức thấp nhất trong tuần

10:05 | 16/09/2022

Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), đóng cửa ngày hôm qua(15/9), thị trường hàng hóa ghi nhận lần đảo chiều xu hướng giá thứ 3 trong tuần này. Kết thúc phiên, chỉ số hàng hóa MXV-Index quay đầu giảm mạnh 2,8% xuống 2.526 điểm.

thi truong hang hoa gia dau xuong muc thap nhat trong tuan

Lực bán áp đảo trên cả 4 nhóm mặt hàng, đặc biệt là ở nhóm năng lượng với mức giảm rất sâu của các mặt hàng xăng dầu. Dòng tiền đầu tư đến thị trường hàng hóa tiếp tục có sự gia tăng mạnh nhờ tính chất thị trường giao dịch 2 chiều. Thông tin từ Khối quản lý Giao dịch MXV, giá trị giao dịch toàn Sở tăng gần 10% trong ngày hôm qua, đạt 5.900 tỷ đồng.

Dầu thô lao dốc trước hàng loạt thông tin tiêu cực

Dầu thô giảm mạnh trong phiên giao dịch cuối tuần, khi Nhà Trắng trì hoãn kế hoạch mua dầu bổ sung vào kho dự trữ, cũng như triển vọng tiêu cực của kinh tế Mỹ và Trung Quốc. Kết thúc phiên giao dịch, giá WTI giảm 3,82% xuống 85,1 USD/thùng trong khi giá Brent giảm 3,46% xuống 90,84 USD/thùng.

thi truong hang hoa gia dau xuong muc thap nhat trong tuan

Mức giảm mạnh ngày hôm qua kéo giá dầu xuống mức thấp nhất trong vòng 1 tuần. Giá dầu bắt đầu suy yếu ngay từ khi mở cửa. Sau đó, một loạt các thông tin tiêu cực trong phiên đã kéo giá dầu thô nói riêng và chỉ số MXV-Index Năng lượng nói chung xuống mức thấp nhất trong vòng 1 tuần.

Rủi ro đình công của các công nhân đường sắt tại Mỹ chấm dứt sau 20 giờ đồng hồ thương thảo giúp cho nước Mỹ tránh được sự gián đoạn về tuyến đường vận chuyển nhiên liệu và thực phẩm. Trong khi đó, Nhà Trắng cho biết kế hoạch mua lại dầu để bổ sung vào kho dự trữ sẽ chỉ tiến hành sớm nhất là vào năm 2023.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang cân nhắc tăng cường xuất khẩu nhiên liệu, đặt ra câu hỏi nhu cầu tiêu thụ dầu thực tế của quốc gia nhập khẩu lớn thứ 2 thế giới sẽ suy yếu đến mức độ nào.

Theo dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA, tiêu thụ dầu của Trung Quốc trong năm 2022 sẽ chứng kiến mức giảm lần đầu tiên trong vòng hơn 3 thập kỷ. Như vậy, rủi ro nguồn cung được giảm bớt, trong khi nhu cầu lại giảm, khiến cho giá dầu chịu sức ép lớn.

Bước vào phiên tối, một loạt các chỉ số tiêu cực của kinh tế Mỹ cũng gây áp lực cho thị trường chung. Doanh số bán lẻ lõi, đo lường doanh thu các hoàng hóa của Mỹ, ngoại trừ ô tô, bất ngờ giảm 0,3% trong tháng 8, trong khi thị trường kỳ vọng mức tăng 0,1%. Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 8 cũng sụt giảm 0,2% so với tháng 7.

Như vậy, có thể thấy cả tiêu dùng lẫn sản xuất của Mỹ đều đã suy yếu, và điều này có thể gây áp lực đến với kinh tế Mỹ trong các tháng cuối năm. Đặc biệt khi Fed được kỳ vọng sẽ vẫn tiếp tục tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, thì sự suy yếu khả năng cao sẽ còn tiếp tục.

Người phát ngôn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cũng cho biết rủi ro đang gia tăng trong cuối năm và có thể đẩy nhiều nước rơi vào suy thoái trong năm 2023, tuy nhiên vẫn còn quá sớm để xác định xem liệu có xảy ra suy thoái kinh tế toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu là lạm phát duy trì ở mức cao, vấn đề chuỗi cung ứng chưa được giải quyết và sự thắt chặt của thị trường tài chính.

Sáng ngày hôm nay, thị trường sẽ chờ đợi các số liệu mới về nền kinh tế Trung Quốc, bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và sản xuất công nghiệp. Với số đơn đặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc đã liên tục giảm trong các tháng gần đây, kết hợp với sức ép nợ trong thị trường nội địa gia tăng, khả năng cao các số liệu sẽ không quá tích cực, và tiếp tục gây sức ép cho giá dầu.

Giá khí tự nhiên cũng giảm rất mạnh 8,67% xuống 8,32 USD/MMBTu, khi báo cáo của EIA cho thấy tồn kho khí tăng mạnh 77 tỷ feet khối lên 2.771 tỷ feet khối, và rủi ro đình công của ngành đường sắt không còn.

Giá kim loại đồng loạt suy yếu

Trên thị trường kim loại, đóng cửa hôm qua (15/09) nhôm LME là mặt hàng duy nhất giữ được sắc xanh. Đối với nhóm kim loại quý, giá bạc ghi nhận phiên suy yếu thứ 2 liên tiếp, giảm 1,53% xuống còn 19,26 USD/oz. Bạch kim kết thúc phiên giao dịch giằng co, đóng cửa tại mức giá 903,7 USD/oz sau khi giảm 0,19%.

Tâm lý lo ngại về mức lãi suất tiếp tục gia tăng mạnh mẽ kéo theo viễn cảnh suy thoái kinh tế đang cản trở lực mua trên thị trường kim loại quý. Theo dữ liệu của Bộ Thương mại Mỹ, doanh số bán lẻ tăng 0,3% trong tháng 8 so với tháng 7, cao hơn một chút so với dự đoán tăng 0,2% của các chuyên gia kinh tế. Mặc dù Bộ Thương mại Mỹ đã điều chỉnh tăng trưởng doanh số bán lẻ trong tháng 7 từ mức không thay đổi so với tháng 6 thành giảm mạnh 0,4%, cho thấy nhu cầu dần chững lại trong một môi trường lãi suất cao, nhưng mức tăng vào tháng 8 so với tháng trước phản ánh bức tranh tiêu dùng ổn định trở lại. Điều này một phần được hỗ trợ bởi sức mạnh của một thị trường lao động khá tích cực.

Thực tế, số đơn xin đề nghị trợ cấp thất nghiệp hàng tuần giảm tuần thứ 5 liên tiếp, xuống 213.000, mức thấp nhất trong vòng 3 tháng qua. Những thông tin này đang làm nới rộng không gian thắt chặt tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong tương lai. Đồng đô la Mỹ tăng nhẹ cũng đã gây sức ép tới giá bạc và bạch kim trong phiên.

thi truong hang hoa gia dau xuong muc thap nhat trong tuan

Còn đối với nhóm kim loại cơ bản, lo ngại về suy thoái kinh tế đang đè nặng lên triển vọng tiêu thụ kim loại cơ bản trong tương lai. Giá đồng COMEX ghi nhận phiên suy yếu thứ 3 liên tiếp với mức giảm 0,84% xuống 3,49 USD/pound.

Chỉ số sản xuất Fed Philadelphia trong tháng 9 bất ngờ xuống dưới mức tham chiếu 0, đạt -9,9 điểm, phản ánh bức tranh sản xuất tiêu cực hơn trong tháng này và gây sức ép tới giá đồng trong phiên.

Nhôm LME là mặt hàng duy nhất trong nhóm ghi nhận đà tăng trong bối cảnh khu vực châu Âu (EU) tiếp tục đối mặt với cuộc khủng hoảng điện trầm trọng, làm cản trở quá trình sản xuất nhôm vốn tiêu tốn rất nhiều năng lượng.

Theo Hiệp hội ngành công nghiệp Eurometaux, khoảng một nửa công suất nhôm của khu vực EU đã bị loại bỏ trước tình trạng này, làm gián đoạn nguồn cung và hỗ trợ cho giá tăng trong phiên.

Giá xăng nội địa xuống thấp nhất từ đầu năm

Trên thị trường nội địa, từ 15 giờ ngày 12/9 vừa qua, giá xăng dầu trong nước đồng loạt giảm 1.000 đồng/lít. Cụ thể, giá xăng A95 từ 24.230 đồng giảm còn 23.215 đồng/lít; xăng E5 từ 23.359 đồng giảm còn 22.231 đồng/lít.

Như vậy, sau khi trải qua 24 lần điều chỉnh giá, với 10 lần giảm, giá mặt hàng xăng dầu đã ghi nhận mức thấp nhất từ đầu năm đến nay, mang những tác động tích cực đến đời sống của người dân. Người tiêu dùng phấn khởi, không còn lo giá thực phẩm tăng theo giá xăng khiến việc chi tiêu khó khăn.

Cùng với đó, mặt hàng gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng cũng có những biến chuyển theo đà giảm của giá xăng. Cụ thể, giá gas bán lẻ trong nước từ ngày 1/9 tiếp tục giảm tháng thứ năm liên tiếp và là lần thứ sáu trong năm 2022, với tổng mức 104.000 đồng/bình 12 kg.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.560 23.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.580 23.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.560 23.860 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.840 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.560 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.580 23.975 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.630 23.880 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.600
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.600
66.400
Vàng SJC 5c
65.600
66.420
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
50.200
50.800