"Thị trường hoàn toàn có thể chinh phục mốc 1.000 điểm"

07:30 | 03/10/2019

Đó là nhận định của ông Trần Minh Hoàng, Kinh tế trưởng, Giám đốc Phòng phân tích và nghiên cứu của CTCK Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS). Theo ông Hoàng, trong quý IV/2019, VN-Index sẽ dao động từ khoảng 1.000 - 1.050 điểm.

Diễn biến VN-Index 3 tháng gần đây

Trên thực tế, sau khi “lên ngàn” một lần nữa đầu phiên sáng, sức nóng “thoát hàng” ở nhiều cổ phiếu đã đẩy VN-Index đóng cửa phiên giao dịch 2/10 rơi 8,4 điểm (0,84%), lui về còn 991,19 điểm, ghi nhận phiên giảm điểm mạnh nhất trong hơn 1 tháng qua của VN-Index.

Như vậy, thêm một lần nữa, thị trường lại gục ngã trước ngưỡng tâm lý “ thần thánh” 1000 điểm.

Gây áp lực không nhỏ cho thị trường là hoạt động của khối ngoại khi khối này có phiên bán ròng chủ yếu vào các trụ lớn, khiến thị trường bị bán trên diện rộng.

Với việc liên tục thất bại trong chinh phục mốc 1000 điểm thời gian qua, tâm lý nhà đầu tư cũng đã có phần thận trọng và chùng xuống, mặc dù các thông tin kinh tế vĩ mô Việt Nam vừa được công bố đều rất tích cực.

Để có thêm nhận định về diễn biến thị trường ở thời điểm hiện tại cũng như dự báo thị trường chứng khoán trong quý IV/2019 tới, thoibaonganhang.vn đã có cuộc phỏng vấn ông Trần Minh Hoàng, Kinh tế trưởng, Giám đốc Phòng phân tích và nghiên cứu của CTCK Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS).

Phiên 2/10 đã là lần thứ 4 trong vài tháng qua, VN-Index trồi sụt quanh mốc tâm lý 1000 điểm. Theo ông, tại sao chỉ số chưa thể bứt phá khỏi ngưỡng tâm lý này?

Tính đến cuối tháng 9 vừa qua, chỉ số VN-Index đã đạt 996,56 điểm, tương đương mức tăng 10,4% so với đầu năm. Đóng góp vào mức tăng trưởng trên, không thể không nhắc đến vai trò của nhóm cổ phiếu ngân hàng. Đặc biệt, trong những tuần gần đây, thị trường tiếp tục chứng kiến đà tăng khá tích cực của nhóm cổ phiếu này và đây cũng là động lực chính dẫn dắt chỉ số tiếp cận vùng 1000 điểm.

Tuy nhiên, đà tăng của nhóm cổ phiếu này chưa có sự lan tỏa ra những nhóm ngành và cổ phiếu khác trên thị trường, do vậy, chưa đủ để giúp chỉ số chung vượt mốc tâm lý 1000 điểm tính đến cuối quý III/2019.

Đặc biệt, áp lực chốt lời ngắn hạn của nhà đầu tư hiện nay vẫn luôn thường trực và có xu hướng gia tăng sau khi chỉ số chung đã nhiều lần thất bại trong việc chinh phục ngưỡng 1000 điểm trước đó.

Ông Trần Minh Hoàng

Vậy, điều gì có thể khiến thị trường tin tưởng VN-Index sẽ vượt qua “ngưỡng cản bền vững” 1000 điểm?

Như chúng ta đã biết, mặc dù chưa được nâng hạng lên thị trường mới nổi trong kỳ đánh giá của FTSE Russell vừa qua, tuy nhiên thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn tiếp tục được xếp vào danh theo dõi trong kỳ đánh giá vào tháng 9/2020 của tổ chức này.

Do vậy, chúng tôi cho rằng triển vọng trung hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn là tích cực với tiềm năng từ việc nâng hạng thị trường từ nhóm cận biên lên mới nổi, cũng như đón nhận những dòng vốn đầu tư mới cả trong và ngoài nước nhờ bối cảnh kinh tế vĩ mô và chính trị ổn định.

Minh chứng cụ thể nhất là tính đến thời điểm hiện tại, khối ngoại vẫn đang duy trì mua ròng 360 triệu USD trong 9 tháng đầu năm và Việt Nam là quốc gia hiếm hoi trong khu vực thu hút được hoạt động mua ròng của khối ngoại.

Để VN-Index vượt 1.000 điểm bền vững, theo ông, thị trường cần hội tụ những nhân tố nào?

Về các yếu tố nội tại trong nước, việc gia tăng chất lượng và số lượng của các sản phẩm trên thị trường chứng khoán và cải thiện khuôn khổ các quy định pháp luật hiện hành sẽ là những yếu tố được nhà đầu tư quan tâm nhất trong giai đoạn tới, bên cạnh nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng bền vững mà Chính phủ vẫn đang tích cực triển khai.

Về các yếu tố quốc tế, những diễn biến tiếp theo trong quá trình xử lý mối quan hệ thương mại và chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như tác động gián tiếp đến bối cảnh kinh tế - chính trị trong khu vực Đông Nam Á sẽ là những nhân tố chính ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn trong việc thu hút vốn đầu tư của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông dự báo gì về thị trường trong quý IV/2019?

Mới đây, cơ quan chức năng đã công bố các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam đều rất khả quan. Trong bối cảnh tích cực đó, chúng tôi cho rằng chỉ số hoàn toàn có khả năng sẽ chinh phục thành công ngưỡng 1.000 điểm và sẽ dao động trong vùng 1.000-1.050 điểm trong quý cuối cùng của năm 2019, mặc dù điều này vẫn phụ thuộc lớn vào những các diễn biến địa chính trị mới trên thế giới cũng như trong khu vực.

Cảm ơn ông!

Ngọc Lan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530