Trái phiếu doanh nghiệp triển vọng 2020?

09:04 | 09/12/2019

Trong bối cảnh chỉ số VN-Index tiếp tục rời xa mốc 1.000 điểm trong những phiên gần đây, điều mà giới đầu tư đang đau đầu là tìm kênh đầu tư vừa có tỷ suất lợi nhuận lạc quan, vừa an toàn trong viễn cảnh rủi ro trong 2020 được dự báo sẽ gia tăng hơn so với năm nay.

Nhìn lại các dự báo về năm 2019
Lãi suất trái phiếu giảm sâu
Ảnh minh họa

Rủi ro đang ngày một lớn dần. Theo báo cáo về chiến lược đầu tư của hãng Vanguard Group, nhiều khả năng tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng trưởng chậm hơn trong năm 2020, nhà đầu tư nên chuẩn bị trước cho nhiều biến động định kỳ trong thị trường tài chính, nhất là bất ổn chính sách tăng cao, rủi ro cuối chu kỳ và vấn đề định giá kéo dài. Xu thế rút vốn từ các cổ phiếu lớn và các tài sản beta cao tiếp tục gia tăng so với mức thông thường.

“Trong bối cảnh đó, kênh trái phiếu với thu nhập cố định chất lượng cao sẽ là chìa khóa trong chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư”, Vanguard nhận định.

Thực tế xu hướng rút vốn cổ phiếu để chuyển sang các kênh đầu tư an toàn khác như trái phiếu cũng diễn ra ở Việt Nam. Đơn cử  trong ấn bản mới nhất của Báo cáo Giám sát trái phiếu châu Á của mình, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của Việt Nam đã gia tăng trong quý III/2019.

Tính tới cuối tháng 9, Việt Nam có 55,1 tỷ USD trái phiếu đang lưu hành, cao hơn 3,4% so với quý trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái xét theo giá trị đồng nội tệ. Sự gia tăng này chủ yếu là nhờ mức tăng 4% so với quý trước của thị trường trái phiếu chính phủ - lên tới 51 tỷ USD.

Tỷ lệ tăng trưởng chung của thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ tại Việt Nam bị kiềm chế đôi chút bởi mức sụt giảm 2,8% của thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với quý trước, xuống còn 5 tỷ USD. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng 4,2%.

Báo cáo của quỹ đầu tư Dragon Capital cũng cho biết, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã phát triển trong hai năm qua và hiện đạt tới quy mô khoảng 20 tỷ USD. Tuy con số này vẫn còn khiêm tốn nhưng tốc độ tăng trưởng đang gia tăng nhanh. Dù vậy, các doanh nghiệp phát hành phần lớn vẫn giới hạn ở các công ty bất động sản bao gồm khu công nghiệp và lĩnh vực tài chính, bao gồm tài chính tiêu dùng, cơ sở hạ tầng. Các công ty có hồ sơ tốt có thể thụ hưởng mức lãi suất phải trả dao động 10%-12%, trong khi những doanh nghiệp có chất lượng tài sản tốt hơn có thể phát hành trái phiếu với lãi suất thấp hơn 9%.

Điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn thông qua kênh trái phiếu là niềm tin của giới đầu tư đang quay trở lại, môi trường lạm phát thấp hơn và tiền đồng cơ bản đang ở mức ổn định. Sau khi chạm đáy 13 tỷ USD vào năm 2010, quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện gia tăng đáng kể lên 70 tỉ USD.

Những bất ổn trong quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ cũng dạy một bài học cho các công ty về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa và một trong những đối tượng chính hưởng lợi từ cuộc chiến này là Việt Nam. “Dòng vốn bên ngoài duy trì tích cực và tiếp tục hỗ trợ cho tiền đồng. Ngay cả khi đồng Nhân Dân Tệ sụt giá, tiền đồng cơ bản vẫn giữ ổn định so với USD”, quỹ Dragon Capital nhận định.

Có thể thấy năm 2020 sẽ là năm mà thị trường trái phiếu lên ngôi, đi cùng tâm lý e ngại rủi ro của giới đầu tư gia tăng. Không chỉ mang tới cơ hội cho các doanh nghiệp phát hành thêm trái phiếu, dòng vốn mới còn mang tới động lực để thị trường hoàn thiện chính mình. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển lành mạnh, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu cần phải có kiểm toán và công bố thông tin doanh nghiệp rõ ràng để nhà đầu tư mua trái phiếu có thể kiểm soát được dòng đầu tư chứ không thể bỏ lửng thông tin như thời gian qua.

Theo các nhà phân tích, điểm yếu của thị trường trái phiếu là vừa nông vừa hẹp. Hiện thị trường chưa thu hút được các quỹ đầu tư lớn như quỹ hưu trí (pension funds) trong khi các quỹ hỗ tương (mutual funds) còn hạn chế về số lượng và quy mô đầu tư. Các nhà đầu tư tham gia tích cực nhất vào thị trường cho đến nay vẫn là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm. Điều đó có nghĩa là thanh khoản thị trường có thể rất biến động.

Thị trường trái phiếu Việt Nam là kênh đầu tư tốt cho các nhà đầu tư trong 10 năm qua và hiện vẫn mang đến cơ hội, đặc biệt là trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đó là nhờ nền kinh tế Việt Nam đang leo lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị, các biến động vĩ mô thấp hơn nhiều so với sự hỗn loạn giai đoạn 2008- 2015.

“Tuy nhiên, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp sẽ vẫn cao trong một thời gian, vì cơ sở hạ tầng cho thị trường cần phải cải thiện. Đó bao gồm nhu cầu  xây dựng một nền tảng các nhà đầu tư trong nước lớn hơn, đòi hỏi nhiều hơn sự chuẩn hóa trong thủ tục, cần thiết lập một cơ quan xếp hạng tín nhiệm và cải thiện tính minh bạch”, Dragon Capital nhận định.

Nam Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.067 23.267 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.620
51.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.620
51.470
Vàng SJC 5c
47.620
51.490
Vàng nhẫn 9999
47.470
51.270
Vàng nữ trang 9999
47.170
50.970