Vì sao khối ngoại gom mạnh cổ phiếu SHB?

07:30 | 18/05/2022

Cổ phiếu ngân hàng là nhóm dẫn dắt thị trường những ngày qua, đặc biệt, kết thúc phiên ngày 17/5/2022, SHB nằm trong nhóm 6 mã ngân hàng tăng kịch trần với thanh khoản đạt hơn 11 triệu cổ phiếu.

Củng cố niềm tin nhà đầu tư

Sau khi tăng lên 1.524,7 điểm vào ngày 4/4, thị trường chứng kiến VN-Index đã giảm mạnh, nhưng sau ba phiên liên tiếp giảm điểm, hơn 200 mã tăng hết biên độ trên hai sàn niêm yết, đẩy VN-Index tăng 56,42 điểm tương đương 4,81% trong phiên ngày hôm qua (17/5/2022). Mức tăng cao nhất kể từ năm 2005 này giúp đưa chỉ số về lại trên mốc 1.200 điểm, và kết phiên ở 1.228,37 điểm. Đây có thể nói là mức tăng trong một ngày mạnh nhất của chỉ số VN-Index kể từ khi thị trường chạm đáy Covid-19 hồi tháng 3/2020, giúp giảm áp lực tâm lý đang đè nặng trên thị trường.

Chỉ số VN30-Index trong phiên ngày 17/5/2022 tăng 5,31%, trong đó, cổ phiếu ngân hàng là nhóm dẫn dắt thị trường. Trong số 13 mã tăng trần trong rổ VN30 thì có 6 mã ngân hàng là VPB, STB, TCB, MBB, BID, SHB. Đáng chú ý, kết thúc phiên, SHB nằm trong nhóm các mã ngân hàng tăng kịch trần với thanh khoản đạt hơn 11 triệu cổ phiếu.

shb khi lua thu vang

Trong một tuần gần nhất, trên sàn HOSE, SHB là mã được mua ròng đứng thứ ba về quy mô. Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài mua vào hơn 2,5 triệu cổ phiếu, bán ra chỉ hơn 300 nghìn đơn vị. Tổng quy mô mua ròng đạt hơn 2,2 triệu cổ phiếu.

Nhìn lại diễn biến trước đó trong tháng 4/2022, khi thị trường giảm mạnh thì chỉ có nhóm ngành công nghệ thông tin, bán lẻ, khí đốt và ngân hàng chứng kiến thanh khoản cải thiện. Đối với các nhóm ngành trụ cột trên thị trường, dòng tiền chỉ “chạy” vào nhóm ngân hàng với thanh khoản tăng 8% so với tháng trước, trong khi dòng tiền chảy ra khỏi nhóm bất động sản (giảm 23% so với tháng trước) và chứng khoán (giảm 12% so với tháng trước).

Xung quanh vấn đề này, TS. Lê Xuân Nghĩa - chuyên gia kinh tế nhận định, dù trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, đà phục hồi kinh tế của Việt Nam vẫn tích cực. Tiếp sức cho đà phục hồi kinh tế là việc tín dụng tiếp tục mạch tăng trưởng tích cực và kỳ vọng rằng sức hấp thụ vốn trong lĩnh vực sản xuất sẽ tiếp tục cải thiện theo thời gian. “Các ngân hàng TMCP nhân duy trì được tốc độ tăng trưởng cao hơn mặt bằng chung của ngành sẽ vẫn là các cơ hội đầu tư tiềm năng trong cả năm 2022”, TS. Nghĩa cho hay.

Còn theo các chuyên gia của Dragon Capital Việt Nam, 2022 là năm hội tụ đầy đủ những yếu tố tích cực của nhóm cổ phiếu ngân hàng. Cụ thể, tín dụng năm 2022 được dự báo sẽ cải thiện, nợ xấu giảm mạnh, lợi nhuận bình quân toàn ngành dự báo đạt mức tăng 30% so với năm 2021. Nhiều thông tin hỗ trợ thêm như việc một số ngân hàng đang triển khai việc bán vốn chiến lược, lợi nhuận cải thiện rất khả quan từ các thương vụ bán bảo hiểm độc quyền.

Thời điểm ngày 25/4/2022, VN-Index giao dịch ở mức P/E 12 tháng là 14,7 lần - mức thấp nhất kể từ tháng 9/2020, thấp hơn 15,2% so với mức đỉnh trong năm nay. VNDirect dự báo lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE tăng trưởng lần lượt 23% so với cùng kỳ và 19% so với cùng kỳ trong năm 2022 và 2023, kéo theo P/E dự phóng cho năm 2022 ở mức 12,3 lần trong 2022 và 2023 ở mức 10,5 lần - thấp hơn nhiều so với mức P/E trung bình 3 năm vừa qua là 16,2 lần.

“Cân nhắc cả yếu tố hỗ trợ và rủi ro nêu trên, chúng tôi cho rằng định giá thị trường chứng khoán Việt Nam hiện ở mức rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư dài hạn, những người đang tìm kiếm các công ty được quản trị tốt với mức tăng trưởng lợi nhuận cao. Chúng tôi tin rằng những nỗ lực gần đây của các cơ quan chức năng trong việc nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán sẽ mang lại niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước và là đóng góp cho sự phát triển bền vững của thị trường trong dài hạn”, VNDirect nhận định.

Gặt hái từ nền tảng vững chắc

Một diễn biến khá bất ngờ trên thị trường là trong khi nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 386,1 tỷ đồng trong rổ VN30 với tổng giá trị bán ra khoảng 1.238,9 tỷ đồng, tương đương 22,2% thanh khoản rổ trong ngày 17/5 thì mã cổ phiếu của SHB lại được nhà đầu tư nước ngoài mua ròng. Điều này không nằm ngoài nhận định của thị trường, khi thực tế kết quả kinh doanh quý I/2022 của SHB đứng Top 8 toàn hệ thống và Top 5 ngân hàng TMCP tư nhân về lợi nhuận, đặc biệt nằm ở chiến lược dài hạn của SHB.

Quý I/2022, lợi nhuận SHB đạt 3.227 tỷ đồng - tăng 94% so với cùng kỳ; tổng tài sản của đạt 515.553 tỷ đồng - tăng 1,8% so với đầu năm; huy động vốn thị trường 1 đạt 388.116 tỷ đồng - tăng 2,6%; dư nợ cấp tín dụng đạt 388,196 tỷ đồng - tăng 5,3%. Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng này cũng đạt 3.227 tỷ đồng - tăng 94% so với cùng kỳ năm 2021. Báo cáo tài chính còn cho thấy, nhân viên SHB có năng suất lao động cao thứ hai toàn hệ thống.

Dù gặp không ít khó khăn trước ảnh hưởng của Covid-19, song những tín hiệu lạc quan từ kết quả kinh doanh quý I/2022 đã cho thấy những nỗ lực của SHB, đặc biệt là nền tảng vững chắc của năm 2021. Theo đó, kết thúc năm 2021, tổng tài sản của SHB đạt 506,6 nghìn tỷ đồng - tăng 23% so với cuối năm 2020; vốn tự có theo chuẩn Basel II đạt 53.114 tỷ đồng; huy động vốn thị trường 1 đạt 379 nghìn tỷ đồng - tăng 12%; dư nợ cấp tín dụng đạt 369 nghìn tỷ đồng - tăng 16% so với năm 2020. Lợi nhuận trước thuế của SHB đạt 6.260 tỷ đồng - tăng 91% so với cùng kỳ, hoàn thành 102% kế hoạch năm.

Đặc biệt, SHB đã hoàn tất việc chuẩn bị các nền tảng để tiến tới chuyển đổi phương pháp tính vốn nâng cao (FIRB), đáp ứng các chuẩn mực Basel III về rủi ro thanh khoản, sau khi đã hoàn thành trước hạn cả 3 trụ cột Basel II. Ngoài ra, Ngân hàng đã chuyển giao dịch cổ phiếu của SHB từ HNX sang HOSE, tạo ra luồng gió mới đối với thị trường và các nhà đầu tư. Thêm nữa, việc thoái 100% vốn của SHB Finance cho Ngân hàng Krungsri - Thái Lan được ghi nhận là thương vụ M&A giá trị cao thứ hai trong các thương vụ mua bán Công ty Tài chính Tiêu dùng trên thị trường đã đem lại nguồn thặng dư vốn đáng kể cho cổ đông SHB, nâng cao năng lực tài chính và vị thế của SHB.

Đối với kế hoạch của năm 2022, SHB đặt mục tiêu tổng tài sản tăng trưởng trên 12%, vốn điều lệ tăng trưởng 37% so với năm 2021; lợi nhuận trước thuế dự kiến tối thiểu 11.686 tỷ đồng - tăng 87%; dự kiến chia cổ tức năm 2022 từ 18%. Trong đó, hai chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất là nguồn vốn huy động và tổng dư nợ tín dụng dự kiến tăng lần lượt 9,8% và 14,4% - đạt 504.539 tỷ và 421.715 tỷ đồng vào cuối năm nay, nợ xấu kiểm soát dưới 1,3%.

Dựa trên các yếu tố nền tảng mà SHB đã tạo dựng và triển khai thành công trong năm 2021, đánh giá kế hoạch kinh doanh 2022 cũng như định hướng chiến lược của SHB trong 3 - 5 năm tới, Moody’s Investors Service đã quyết định nâng mức xếp hạng tín nhiệm của SHB từ Ổn định lên Tích cực. Cụ thể, Moody’s đã nâng mức xếp hạng nhà phát hành và tiền gửi dài hạn của SHB từ B2 lên B1, nâng hạng Đánh giá tín dụng cơ bản (BCA) của SHB từ B3 lên B2, đồng thời thay đổi triển vọng xếp hạng của SHB từ Ổn định thành Tích cực.

Thu Hà

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650