12:17 | 06/09/2019

Bổ sung kinh tế chưa quan sát vào GDP sẽ tạo dư địa tài khoá và tài chính cho điều tiết vĩ mô

Trong những ngày cuối tháng 8, Tổng cục Thống kê (GSO) Việt Nam công bố kết quả tính toán lại quy mô GDP. Theo đó, tổng quy mô nền kinh tế giai đoạn 2011-2017 đã tăng thêm 25,4%/năm và đạt trên 300 tỷ USD trong năm nay.

Đưa kinh tế chưa được quan sát vào tầm soát
Tính toán kinh tế phi chính thức
Kinh tế phi chính thức: Cần phân loại để tiếp cận

Tuy nhiên, bản phân tích chiến lược đầu tư tháng 9/2019 của CTCK Rồng Việt (VDSC) có lưu ý con số này chưa bao gồm khu vực kinh tế chưa quan sát được. Trong khi đó, việc tính bổ sung khu vực kinh tế chưa quan sát được vào GDP có thể tạo dư địa tài khoá và tài chính cho việc điều tiết kinh tế vĩ mô.

Phân tích này của VDSC dựa vào khuôn khổ phân loại của IMF, bài học đánh giá nền kinh tế chưa quan sát được tại châu Âu. Theo IMF, khu vực kinh tế chưa quan sát được bao gồm 4 phân loại chính: Kinh tế ngầm, các nhà sản xuất ngoài báo cáo lẽ ra cần đăng ký kinh doanh nhưng chưa đăng ký, Doanh nghiệp đã đăng ký nhưng chưa được thống kê, Khu vực không được thống kê do thiếu số liệu đáng tin cậy và  Khu vực bất hợp pháp.

Tại châu Âu, kể từ tháng 9/2014, hệ thống tiêu chuẩn kế toán tại châu Âu về tính toán GDP cho phép các quốc gia bổ sung các hoạt động kinh tế chưa quan sát được vào tính toán GDP, kể cả các hoạt động bất hợp pháp. Theo đó, các hoạt động kinh tế bất hợp pháp nên được xem xét như các giao dịch như mại dâm, mua/bán thuốc hoặc đồ trộm cắp bất hợp pháp. Do đó, các giao dịch trên cần được tính bổ sung vào GDP.

Tuy nhiên, mức độ áp dụng của từng nước là khác nhau tùy thuộc chính sách riêng của từng nước. Ví dụ, tại các quốc gia cho phép ngành mại dâm hoạt động hợp pháp, doanh thu từ khu vực kinh tế này sẽ được ghi nhận như Đức, Hungary, Áo và Hy Lạp. Hiện tại, phương pháp và kết quả giữa các nhà kinh tế và tổ chức độc lập khá khác nhau.

Ở đây, dựa trên báo cáo từ IMF, tính toán bởi hai nhà kinh tế học Leandro Medina và Friedrich Schneider, VDSC ước quy mô khu vực kinh tế chưa quan sát được tại Việt Nam dao động trong khoảng 14,8-21,8% GDP trong giai đoạn 1991-2015.

Đáng chú ý, so với các nước trong khu vực, con số này chỉ cao hơn Trung Quốc và cách khá xa so với con số công bố của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Trong trường hợp chính thức điều chỉnh quy mô GDP từ năm 2020, các chỉ số tài khoá/tài chính quan trọng như tỷ lệ nợ công, tỷ lệ thâm hụt ngân sách hay quy mô tín dụng so với GDP sẽ ngay lập tức thay đổi.

Điển hình, nếu tăng quy mô GDP thêm 25,4%, tỷ lệ nợ công sẽ giảm về dưới ngưỡng 50% GDP trong khi quy mô dự nợ tín dụng chỉ còn ở quanh mức 100% GDP. Ở mặt tích cực, điều này có thể tạo dư địa tài khoá và tài chính cho việc điều tiết kinh tế vĩ mô. Đặc biệt khi bối cảnh vĩ mô trong và ngoài nước trong 3 năm tới được dự báo sẽ có nhiều biến động.

Ở ngoài biên giới, kinh tế toàn cầu đang suy giảm và rủi ro suy thoái vẫn đang treo lơ lửng. Ở trong nước, 30% nợ gốc sẽ đáo hạn trong khi các dự án cơ sở hạ tầng trọng yếu như Đường cao tốc Bắc – Nam và Sân bay Long Thành sẽ lần lượt khởi công. Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, mô hình hợp tác công – tư (PPP) được xem như chìa khoá mở cánh cửa vốn. Tuy nhiên, kết quả thống kê sơ bộ trong quá trình bỏ thầu 8/11 cấu phần dự án Cao tốc Bắc – Nam đang cho thấy sự áp đảo của doanh nghiệp Trung Quốc hoặc có dòng vốn Trung Quốc. Do đó, dư địa chính sách rộng hơn sẽ giải tỏa sức ép phụ thuộc vào vốn vào một số quốc gia nhất định.

Ở mặt tiêu cực, câu chuyện hiệu quả và lòng tin lại được đặt lên bàn thảo luận. Những lo ngại về mức độ hiệu quả của việc đầu tư công nếu nợ công được điều chỉnh giảm là có cơ sở sau hàng loạt bài học như 12 dự án thua lỗ của Bộ Công Thương, đội vốn đường sắt đô thị… Bên cạnh đó, Tổng cục Thống kê cần sớm công bố nội dung chi tiết báo cáo tính toán lại quy mô GDP do sự chênh lệch về kết quả tính toán lại quy mô GDP theo các cách tính khác nhau.

“Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới khu vực doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng được bổ sung vào. Các số liệu thực tiễn cho thấy mặc dù số lượng doanh nghiệp này không nhiều nhưng đều chiếm các vị trí quan trọng trong nhiều ngành nghề kinh doanh. Doanh thu trong năm 2018 chiếm tới 5% GDP”, VDSC cho biết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850