16:50 | 16/09/2019

Chứng khoán phiên 16/9: Cổ phiếu dầu khí tăng mạnh, VN-Index áp sát ngưỡng kháng cự 990

"Thế chân" nhóm ngân hàng, cổ phiếu dầu khí là điểm sáng trong phiên giao dịch hôm nay.

Giá xăng tiếp tục giảm từ 15 giờ chiều nay (16/9)
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 9-13/9
Chứng khoán ngày 13/9: VN-Index “bay cao” trong phiên cuối tuần

Thông tin đáng chú ý nhất trước giờ giao dịch hôm nay là việc các cơ sở sản xuất dầu của Arab Saudi bị tấn công, đẩy giá dầu thế giới tăng sốc ngay trong phiên giao dịch đầu tuần. Các hợp đồng tương lai dầu Brent, WTI đều tăng hơn 10% ngay lúc mở cửa.

Ngược lại, lần điều chỉnh giá xăng dầu hôm nay, Liên Bộ Công Thương - Tài chính tiếp tục giảm giá xăng dầu, do tác động của chu kỳ giá giảm trước đó.

Với thị trường chứng khoán, không ngoài dự đoán khi hôm nay nhóm cổ phiếu dầu khí đã có phiên bùng nổ cả về giá và khối lượng. Tất cả các mã lớn nhóm dầu khí đã tăng giá rất tốt, hỗ trợ tâm lý thị trường kịp thời khi nhóm ngân hàng có dấu hiệu quay đầu chốt lời.

Cụ thể, PLX tăng 1,29% lên 62,6 nghìn/cổ phiếu; PVS tăng 3,59% lên 20,2 nghìn/cổ phiếu; PVD tăng 2,56% lên 18,05 nghìn/cổ phiếu. Đáng chú ý, Bluechips GAS có phiên tăng giá và khối lượng lớn nhất kể từ ngày 29/7 khi hết phiên GAS tăng 2,4% lên 103.4 nghìn/cổ phiếu với khối lượng đạt 622,8 nghìn cổ phiếu được giao dịch.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng ngay từ đầu phiên đã có dấu hiệu chốt lời nhẹ. Tuy nhiên, lực bán khá yếu đã giúp nhóm ngân hàng không rơi quá sâu trong phiên sáng. Mặc dù vậy, áp lực chốt lời ở nhóm ngân hàng đã rất mạnh từ khoảng 1h40, đặc biệt ở các mã tăng mạnh trong vài ba phiên gần đây.

Cụ thể, VCB sau khi vượt đỉnh tại phiên thứ 6 đã quay đầu giảm khá mạnh ở mức 1,1%, đóng cửa ở mức giá gần thấp nhất ngày là 81 nghìn/cổ phiếu. Trong khi đó, cổ phiếu mạnh nhất phiên sáng là BID đã quay đầu giảm, chốt phiên chỉ còn tăng 0,38%. Các mã ngân hàng khác tăng nhẹ có MBB, HDB. Các mã VPB, STB, EIB đóng cửa ở giá tham chiếu.

Điểm số VN-Index hôm nay cũng ghi nhận đà tăng giá nhẹ của cổ phiếu “họ” Vin như VIC, VHM, VRE. Trong đó, VIC tăng 0,33% lên 122,8 nghìn/cổ phiếu; VHM tăng 0,57% lên 88,5 nghìn/cổ phiếu; VRE tăng 0,15% lên 34 nghìn/cổ phiếu. Như vậy, các siêu Bluechips như VIC, VHM đã có phiên tăng thứ 3 liên tiếp dù mức tăng giá là khá khiêm tốn.

Bên cạnh nhóm cổ phiếu dầu khí thì các cổ phiếu công nghệ như FPT, MWG sau khi lập đỉnh mới tiếp tục giao dịch thăng hoa, tìm điểm đỉnh mới. Đây đều là các mã cổ phiếu được các công ty chứng khoán lựa chọn vào rổ chứng quyền trong thời gian vừa qua. Chốt phiên, MWG tăng 0,9% lên 123,5 nghìn/cổ phiếu; FPT tăng 1,59% lên 57,7 nghìn/cổ phiếu.

Về hoạt động khối ngoại, đây là phiên thứ 3 khối ngoại bán ròng trên toàn thị trường với giá trị hơn 40 tỷ đồng. Trong đó, lực bán tập trung vào nhóm VN30 như  VNM (37 tỷ), VRE (29 tỷ), VHM (17 tỷ)…

Đóng cửa phiên hôm nay, VN-Index tăng 2,64 điểm (+0,27%) lên 989,86 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 187,15 triệu đơn vị, giá trị 4.485,22 tỷ đồng, giảm nhẹ 1,1% về khối lượng và đạt xấp xỉ về giá trị so với phiên 13/9. Trong đó, giao dịch thỏa thuận đóng góp 49,12 triệu đơn vị, giá trị 1.491,32 tỷ đồng.

Trên sàn HNX, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn diễn biến trái chiều. Kết phiên, ACB giảm 0,89% xuống còn 22,4 nghìn/cổ phiếu. Trong khi đó, SHB tăng 1,59% lên 6,4 nghìn/cổ phiếu.

Kết thúc phiên, sàn HNX với 38 mã tăng và 42 mã giảm, HNX-Index tăng 0,02 điểm (+0,02%) lên 102,21 điểm. Tổng khối lượng giao dịch đạt 21,28 triệu đơn vị, giá trị 310,58 tỷ đồng, tăng 8,63% về lượng và 29,4% về giá trị so với phiên 13/9.

Giao dịch thỏa thuận đạt 17,22 triệu đơn vị, giá trị gần 150 tỷ đồng. Đáng chú ý trong đó có SHB thỏa thuận gần 13,3 triệu đơn vị, giá trị 83,74 tỷ đồng.

Về thanh khoản, PVS vẫn giữ vị trí dẫn đầu về thanh khoản với 4,2 triệu đơn vị được khớp lệnh

Trên thị trường chứng khoán phái sinh, thanh khoản là điểm đáng chú ý nhất trong phiên giao dịch hôm nay. Sau khi tăng gần 25% trong phiên thứ 6, thanh khoản lại sụt giảm mạnh, ở mức gần 25% trong phiên hôm nay. Chốt phiên có 44.660 hợp đồng được giao dịch ở 4 kỳ hạn.

Về diễn biến giá, chỉ có duy nhất hợp đồng tương lai tháng 9 tăng giá 0,6 điểm lên 902,2 điểm. Đáng chú ý là hợp đồng tương lai chỉ số VN30 giảm hơn 2 điểm mặc dù trước phiên ATC hợp đồng này giảm hơn 2 điểm.

Như vậy, với việc đà tăng của hợp đồng tháng 9 không theo kịp VN30, basic của hợp đồng tháng 9 đã được nâng lên thành 6,4 điểm. Đây là mức basic khá lớn trong khi hợp đồng 9 chỉ còn 3 phiên là đáo hạn.

Tại các hợp đồng tương lai chỉ số VN30 khác, tất cả các hợp đồng đều giảm giá. Trong đó, đáng lưu ý là hợp đồng tháng 10 (thay thế hợp đồng tháng 9 vào thứ 6) giảm 0,9 điểm.

 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690