10:53 | 12/07/2018

Củng cố vị thế cho VND

Mong muốn giảm thêm lãi suất của cộng đồng doanh nghiệp là hoàn toàn chính đáng, song muốn mặt bằng lãi suất giảm thêm, điều kiện tiên quyết vẫn phải là kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Còn trong bối cảnh hiện nay, giữ được lãi suất ổn định đã là một thành công.

Ổn định lãi suất để ghìm cương tỷ giá
Cơ hội vay lãi suất siêu ưu đãi chỉ từ 5,5%/năm tại BIDV
Tín dụng tăng 6,35%, lãi suất giữ ổn định

Hy vọng mặt bằng lãi suất cho vay có thể giảm thêm ít nhiều sau động thái giảm lãi suất huy động của một số ngân hàng hồi cuối tháng 4, đầu tháng 5 bỗng chốc trở nên xa vời khi lạm phát đột nhiên tăng tốc trong 2 tháng gần đây.

Xét trên giác độ của các ngân hàng thương mại, về lý thuyết muốn giảm lãi suất cho vay để chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp chỉ có 2 phương cách, đó là tiết giảm chi phí hoạt động và giảm giá vốn đầu vào. Thế nhưng hiện tỷ lệ lãi cận biên (NIM) của các ngân hàng đã giảm xuống mức rất thấp nhất sau khi mặt bằng lãi suất cho vay được kéo giảm nhanh hơn lãi suất huy động trong mấy năm gần đây, nên khó có thể kéo giảm thêm. Bởi các ngân hàng cũng phải đảm bảo kinh doanh có lãi mới có thể tồn tại và phát triển được.

Ảnh minh họa

Điều đó cũng có nghĩa, muốn giảm lãi suất cho vay chỉ còn cách duy nhất là giảm mặt bằng lãi suất huy động. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ là trung gian tài chính, đi vay để cho vay nên phải cân đối hài hòa lợi ích của cả người gửi tiền và khách hàng vay vốn. Hay nói cách khác là các ngân hàng phải đảm bảo lãi suất huy động thực dương ở mức hợp lý so với lạm phát để đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền.

Cũng có ý kiến cho rằng, hiện lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm tại các ngân hàng bình quân khoảng 6,7 - 6,8%/năm, có nghĩa vẫn đảm bảo thực dương tới gần 3% nếu lạm phát năm nay được kiểm soát ở mức 4% đúng như mục tiêu đã đề ra. Song điều đó chỉ đúng nếu nhìn ở thời điểm đầu năm, còn tính tới ở thời điểm này nó không còn đúng nữa khi mà lạm phát tính theo năm đã tăng tốc mạnh lên 4,67% trong tháng 6 từ mức 3,86% của tháng 5 và điều đó đã thu hẹp mức thực dương của lãi suất đi khá nhiều. Đó là chưa kể việc lạm phát tăng tốc mạnh trong 2 tháng qua, cộng thêm áp lực lạm phát những tháng cuối năm đã đẩy kỳ vọng lạm phát tăng cao hơn rất nhiều.

Vì thế nếu tiếp tục giảm lãi suất huy động trong bối cảnh hiện nay rất có thể khiến dòng tiền tiết kiệm đảo chiều, chảy vào các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán… thậm chí có thể “chôn” và vàng hoặc ngoại tệ. Đó chắc chắn không phải là điều mong muốn của các cơ quan quản lý khi mà mục tiêu chống vàng hóa và đôla hóa nền kinh tế vẫn đang tiếp tục được thực thi.

Còn xét trên giác độ của cơ quan quản lý, kiềm chế lạm phát cũng đang là mục tiêu hàng đầu hiện nay. Trước sức ép lạm phát, Chính phủ đã chỉ đạo không tăng giá điện trong năm nay cũng như giữ ổn định các mặt hàng do Nhà nước định giá trong tháng 6. Đồng thời tiếp tục rà soát để đẩy nhanh các mặt hàng có khả năng giảm, quyết liệt triển khai biện pháp bình ổn giá các mặt hàng có xu hướng tăng cao... Trong tình thế đó, không thể đòi hỏi NHNN nới lỏng tiền tệ để kéo giảm mặt bằng lãi suất được. Thậm chí để kiềm chế lạm phát, chính sách tiền tệ có thể cần phải được siết chặt hơn.

Đó là chưa kể, NHNN vẫn còn một vấn đề khác phải quan tâm đó là tỷ giá. Hiện tỷ giá đang chịu áp lực khá lớn sau động thái tăng tốc thắt chặt tiền tệ của Fed và nhiều NHTW lớn khác cũng đang phát đi tín hiệu sẽ chấm dứt chu kỳ nới lỏng của mình. Việc tỷ giá trong nước được duy trì khá ổn định trong thời gian vừa qua bất chấp đồng USD biến động mạnh trên thị trường thế giới một phần cũng nhờ chênh lệch lãi suất giữa VND và USD được duy trì ở mức khá cao, đã góp phần nâng cao vị thế cho VND so với USD.

Tuy nhiên, lạm phát tăng cao cũng đã làm lung lay phần nào vị thế của đồng nội tệ. Thế nhưng lãi suất USD hiện đã ở mức 0% nên không thể giảm thấp hơn được nữa. Vì lẽ đó, nếu giảm lãi suất VND sẽ khiến chênh lệch lãi suất VND – USD bị thu hẹp và điều đó có thể làm giảm vị thế của đồng nội tệ, từ đó tạo thêm sức ép đến tỷ giá.

Nói như vậy để thấy, mong muốn giảm thêm lãi suất của cộng đồng doanh nghiệp là hoàn toàn chính đáng, song muốn mặt bằng lãi suất giảm thêm, điều kiện tiên quyết vẫn phải là kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Còn trong bối cảnh hiện nay, giữ được lãi suất ổn định đã là một thành công.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.380 26.537 26.014 29.670 30.145 203,29 211,81
BIDV 23.275 23.365 26.485 26.859 29.654 30.123 204,78 208,30
VietinBank 23.284 23.384 26.484 26.909 29.623 30.183 204,88 208,63
Agribank 23.275 23.853 26.498 26.853 29.679 30.124 204,84 207,98
Eximbank 23.280 23.380 26.519 26.874 29.758 30.156 205,69 208,44
ACB 23.300 23.380 26.537 26.878 29.866 30.175 205,89 208,54
Sacombank 23.296 23.388 26.570 26.927 29.858 30.222 205,75 208,80
Techcombank 23.260 23.360 26.247 26.956 29.411 30.232 204,13 209,34
LienVietPostBank 23.260 23.360 26.442 26.903 29.781 30.193 205,12 208,84
DongA Bank 23.335 23.380 26.550 26.850 29.800 30.150 204,40 208,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.470
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.470
36.630
Vàng SJC 5c
36.470
36.650
Vàng nhẫn 9999
34.820
35.220
Vàng nữ trang 9999
34.470
35.170