14:00 | 03/06/2019

Lạm phát kỳ vọng

Tuần qua Quốc hội đã có phiên thảo luận tại nghị trường về tình hình kinh tế - xã hội. Các đại biểu đã đưa ra thông tin đa chiều về nhiều vấn đề nổi cộm, đáng quan tâm. Trong đó, nhiều ý kiến đánh giá cao về công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nói riêng và tình hình kinh tế vĩ mô nói chung.

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát
Vẫn còn băn khoăn giá điện, lạm phát
Ảnh minh họa

Đáng chú ý, phát biểu tại phiên thảo luận ngày 30/5, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định, việc kiểm soát ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và kiểm soát lạm phát luôn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ theo chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội.

Trong ba năm qua, chúng ta liên tiếp kiểm soát được chỉ số CPI dưới 4%. Hết tháng 5/2019, chỉ số tăng 0,49% so với tháng 4; bình quân 5 tháng chỉ số này tăng 2,74% so với năm 2018. Thời gian sắp tới để kiên trì mục tiêu 3,3%-3,9% CPI, dự kiến Chính phủ sẽ thực hiện 5 biện pháp chủ yếu sau đây.

Thứ nhất, điều hành chính sách tài khóa chặt chẽ, CSTT chủ động, linh hoạt phối hợp với các chính sách vĩ mô khác để kiềm chế lạm phát theo mục tiêu đề ra. NHNN sẽ kiểm soát lạm phát cơ bản trong khoảng 1,8%.

Thứ hai, chủ động theo dõi sát diễn biến cung, cầu thị trường và giá để có giải pháp bình ổn; nhất là đối với một số mặt hàng thiết yếu và khó lường như giá điện, giá xăng dầu, giá gas và một số mặt hàng đang có nhu cầu cao như vật liệu xây dựng.

Thứ ba, tiếp tục đánh giá tác động gián tiếp của điều chỉnh giá điện. Tiếp tục điều chỉnh giá xăng dầu trong nước phù hợp với diễn biến giá thế giới và có sử dụng công cụ bình ổn giá là Quỹ bình ổn để đảm bảo bình ổn theo mục tiêu.

Thứ tư, tăng cường công tác dự báo và tính toán các mặt hàng thiết yếu như nhiều đại biểu đề xuất. Chúng tôi sẽ điều chỉnh vào những thời điểm phù hợp và với liều lượng ở mức độ phù hợp theo mục tiêu chung.

Thứ năm, cần phải có công khai, minh bạch các chi phí đầu vào và tạo được niềm tin cho người dân, cho doanh nghiệp, xử lý nghiêm những sai phạm trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính phủ và kiểm soát lạm phát kỳ vọng…

Trong phát biểu của Phó Thủ tướng có hai thuật ngữ rất đáng chú ý: lạm phát cơ bản và lạm phát kỳ vọng. Nếu như lạm phát cơ bản có thể lượng hóa được bằng con số thì lạm kỳ vọng lại không thể đo trực tiếp mà chỉ có thể được ước lượng gián tiếp thông qua dự báo hay các thông tin từ thị trường tài chính và các cuộc khảo sát.

Theo nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và tài chính (Trường đại học Kinh tế - Luật): Các yếu tố tác động lên lạm phát kỳ vọng khá phức tạp. Bởi, mỗi người tiêu dùng có hành vi tiêu dùng khác nhau, có rổ hàng tiêu dùng khác nhau nên cảm nhận về sự thay đổi giá của họ cũng khác nhau và có thể khác so với lạm phát thực tế được tính toán bởi các nhà kinh tế học.

Hơn nữa, mỗi cá nhân có những chiến lược riêng cho tương lai, nên những dự đoán về tương lai của họ cũng khác nhau. Các lý thuyết kinh tế cho thấy người tiêu dùng có trình độ học vấn khác nhau, lứa tuổi khác nhau, mức thu nhập khác nhau và đến từ các cộng đồng khác nhau có kỳ vọng tương đối khác biệt…

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận thực tiễn một cách đơn giản hóa cho thấy, lạm phát tăng cao là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố, trong đó khó kiểm soát hơn cả là sự kỳ vọng lạm phát tăng của người dân. Mức độ kỳ vọng lạm phát của người dân dựa vào diễn biến lạm phát trong quá khứ và dự báo xu hướng dịch chuyển của giá các hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. Do đó sự ổn định của kinh tế vĩ mô là yếu tố quan trọng, tác động mạnh đến tâm lý kỳ vọng của người dân.

Vậy trong bối cảnh thế giới đang có nhiều yếu tố bất định như hiện nay người dân có thể nhìn vào những gì để tiếp tục tin tưởng vào sự ổn định kinh tế vĩ mô? Trước hết chính là cam kết, sự kiên định của Đảng, Chính phủ như Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định.

Bên cạnh đó, xem xét những yếu tố cụ thể, thực tiễn, theo TS. Trần Hoàng Ngân, đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay đang có những chuyển biến rất phức tạp, tình hình kinh tế của nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng trân trọng. Thứ nhất, GDP năm 2018 tăng trưởng 7,08% và đây là cao nhất trong 11 năm qua. Năm 2008, GDP bình quân đầu người năm là 1.140 USD, hiện nay là 2.590 USD. Thứ hai, chất lượng tăng trưởng đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực. Thứ ba, kinh tế vĩ mô chúng ta tiếp tục ổn định, kiểm soát lạm phát 4 năm liên tiếp dưới 4%. Các cán cân lớn như thương mại, cán cân vãng lai, cán cân cân đối quốc tế chúng ta thặng dư...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820