18:53 | 11/09/2018

NHNN triển khai quyết liệt, kịp thời, khẩn trương các nhiệm vụ được giao trong 8 tháng đầu năm 2018

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018 và các Nghị quyết, chỉ đạo khác, trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai quyết liệt, kịp thời, khẩn trương các nhiệm vụ được giao.

NHNN đã không để chênh lệch lãi suất USD và VND cao, tránh áp lực lên tỷ giá
NHNN tăng 2 bậc trong Vietnam ICT Index 2018
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chủ động điều hành linh hoạt

Trước hết, NHNN đã ban hành Chỉ thị 04/CT-NHNN ngày 2/8/2018 về tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong 6 tháng cuối năm 2018.

Tại Chỉ thị này, một lần nữa Thống đốc NHNN chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành chủ động điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu.

Đặc biệt, Thống đốc NHNN yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng và chất lượng tín dụng của toàn hệ thống. Năm nay, NHNN không xem xét điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho hầu hết các TCTD, chỉ trừ trường hợp một số NHTM tham gia tái cơ cấu các TCTD yếu kém.

Ngoài ra, NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá, phù hợp với cân đối thị trường, cân đối vĩ mô, góp phần hạn chế tình trạng đô la hóa và vàng hóa trong lãnh thổ; kiểm soát chặt việc cho vay bằng ngoại tệ, giảm dần và có lộ trình chấm dứt cho vay bằng ngoại tệ; Phối hợp chặt chẽ với Bộ, ngành, địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg.

Cũng tại Chỉ thị, Thống đốc yêu cầu toàn ngành thực hiện nghiêm túc kế hoạch thanh tra, giám sát, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, dễ phát sinh sai phạm để kịp thời phát hiện, cảnh báo sớm rủi ro, yếu kém, nguy cơ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; tiến hành thanh tra đột xuất các TCTD có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao vào lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ…

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Ngân hàng được nêu ra tại Chỉ thị là tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, tăng cường giám sát các hệ thống thanh toán đảm bảo hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thanh toán, trung gian thanh toán.

Trong 8 tháng đầu năm 2018, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, kịp thời phù hợp với chủ trương của Chính phủ. NHNN đã rất chủ động điều hành linh hoạt lượng tiền cung ứng qua các kênh để điều tiết tiền tệ hợp lý, hỗ trợ thanh khoản hệ thống và đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền kinh tế.

Trên thị trường mở NHNN tiếp tục theo hướng duy trì các phiên chào mua với khối lượng phù hợp và có điều chỉnh tăng trong một số ngày thanh khoản bị thiếu hụt, chào báo tín phiếu NHNN với các kỳ hạn linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong điều kiện tỷ giá có xu hướng tăng, góp phần ổn định tỷ giá, kiểm soát tiền tệ.

NHNN cũng giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, chỉ đạo các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay nhằm chia sẻ với khó khăn của khách hàng vay, đồng thời tăng cường giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN về lãi suất huy động và cho vay của TCTD.

Tiếp tục điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phù hợp với cung cầu ngoại tệ, đảm bảo thị trường ngoại hối hoạt động hiệu quả, thông suốt, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD triển khai tích cực, có hiệu quả các chương trình tín dụng theo hướng mở rộng quy mô tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng.

Trên cơ sở đề nghị của Thống đốc NHNN, ngày 8/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Công tác tái cơ cấu, xử lý nợ xấu vẫn đang được triển khai quyết liệt và toàn diện. Sự quyết tâm sớm có một hệ thống ngân hàng lành mạnh được thể hiện rõ khi cơ quan quản lý tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ được giao tại Đề án 1058 thông qua tăng cường kiểm soát tái cơ cấu đối với các TCTD yếu kém, các NHTMCP hình thành sau sáp nhập. Các NHTMCP hoạt động bình thường đang thực hiện cơ cấu lại, xử lý nợ xấu theo phương án được phê duyệt cũng được cơ quan quản lý giám sát chặt chẽ để đảm bảo an toàn hệ thống.

Một sự kiện của ngành Ngân hàng được Chính phủ đánh giá cao, được NHNN tổ chức vào cuối tháng 8 là Hội nghị trực tuyến sơ kết 1 năm triển khai Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu và hội nghị chuyên đề về QTDND để đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của các QTDND trên địa bàn 57 tỉnh thành.

Ngay sau Hội nghị, Thống đốc đã chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương hoàn thiện để sớm ban hành các chỉ thị về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách của Nghị quyết 42 nhằm mục tiêu xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu và tài sản đảm bảo (TSĐB) của các khoản nợ xấu.

Tính luỹ kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 6/2018, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được 138,3 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh, nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD, phát huy vai trò của VAMC trong xử lý nợ xấu; khẩn trương ban hành Chỉ thị về tăng cường giải pháp nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống QTDND nhằm củng cố, chấn chỉnh, sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống QTDND phát triển bền vững, hoạt động đúng mục tiêu… là những nhiệm vụ trọng tâm mà NHNN yêu cầu các đơn vị chức năng, TCTD phải tập trung triển khai trong thời gian tới.

Diễn biến tiền tệ phù hợp

Nhờ đó, NHNN đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Trước hết, về diễn biến tiền tệ, tín dụng, lãi suất, tính đến ngày 22/8/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 8.3%, huy động vốn tăng 8.72%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 8.54% so với cuối năm 2017.

Về diễn biến lãi suất, mặt bằng lãi suất tháng 8 tương đối ổn định so với cuối tháng 7/2018. Về diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại hối, đến ngày 31/8/2018, tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt theo cả hai chiều tăng/giảm, ở mức 22.678 VND/USD (tương ứng với mức tỷ giá sàn 21.998 VND/USD và mức tỷ giá trần 23.358 VND/USD), tương đương cuối tháng 7/2018 và tăng 253 VND/USD (tăng 1,13%) so với cuối năm 2017; Tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng diễn biến tăng.

Ngày 31/8/2018, tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng khoảng 23.300 VND/USD, tăng 0,08% so với cuối tháng 7/2018, tăng 2,60% so với cuối năm 2017; Tỷ giá niêm yết của NHTMCP Ngoại thương ở mức 23.260/23.340 VND/USD, tăng 0,06% so với cuối tháng 7/2018, tăng 2,63 so với cuối năm 2017. Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng quốc tế, tuy nhiên, trong biên độ hẹp hơn.

Kết quả một số chương trình tín dụng: NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung, ưu tiên vốn cho các ngành, lĩnh vực, chương trình tín dụng trọng điểm. Kết quả cho vay của một số chương trình tín dụng đến thời điểm cuối tháng 7/2018 cụ thể như sau: Cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 1.431.171 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cuối năm 2017 và chiếm tỷ trọng khoảng 21% dư nợ tín dụng nền kinh tế.

Chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 7/3/2017: Dư nợ tín dụng của ngành ngân hàng đối với lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đạt khoảng 38.000 tỷ đồng với hơn 16.800 khách hàng đang có dư nợ. Ngoài ra, dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 182.420 tỷ đồng, tăng 10.630 tỷ đồng so với năm 2017 (tăng 6,19%).

Nhờ đó, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s Investors Service vừa nâng mức xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành cùng với tiền gửi ngoại tệ và nội tệ dài hạn đối với một số ngân hàng Việt Nam, sau khi nâng điểm tín nhiệm quốc gia của Việt Namtừ B1 lên Ba3 và điều chỉnh triển vọng từ “ổn định” sang “tích cực”. Đánh giá của Moody’s được đưa ra dựa trên tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ với sự hỗ trợ từ việc sử dụng ngày càng hiệu quả lực lượng lao động và nguồn vốn trong nền kinh tế.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.380 26.325 26.799 29.491 29.963 202,65 211,15
BIDV 23.290 23.380 26.319 26.690 29.511 29.980 204,51 208,03
VietinBank 23.295 23.395 26.299 26.804 29.462 30.022 204,37 209,12
Agribank 23.285 23.375 26.311 26.664 29.265 29.970 204,50 207,98
Eximbank 23.290 23.390 26.336 26688 29.613 30.009 205,14 207,88
ACB 23.300 23.380 26.347 26.686 29.701 30.008 205,21 207,85
Sacombank 23.307 23.399 26.396 26.757 29.706 30.068 205,24 208,31
Techcombank 23.270 23.380 26.074 26.794 29.279 30.108 203,89 209,18
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.275 26.734 29.640 30.056 204,88 208,57
DongA Bank 23.310 23.390 26.380 26.680 29.640 30.990 203,90 207,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.430
36.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.430
36.590
Vàng SJC 5c
36.430
36.610
Vàng nhẫn 9999
34.810
35.210
Vàng nữ trang 9999
34.460
35.160