15:37 | 10/09/2018

NHNN đã không để chênh lệch lãi suất USD và VND cao, tránh áp lực lên tỷ giá

Hoạt động thị trường tiền tệ tháng 8 thể hiện những bước đi rất thận trọng của NHNN, đặc biệt là việc chủ động điều hành lãi suất, không để xảy ra tình trạng chênh lệch lãi suất USD-VND cao gây áp lực lên tỷ giá.

Đây là nhận định được đưa ra trong Báo cáo thị trường tài chính tiền tệ tháng 8/2018 của Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa công bố.

Chủ động điều hành lãi suất

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm được đẩy dần từ 2% lên 4% và duy trì ở ngưỡng này từ giữa tháng 8. Trong khi đó, lãi suất USD vẫn ổn định quanh ngưỡng 2%, giúp tạo mức chênh lệch 2% khá an toàn. Như vậy, NHNN đã chủ động đẩy lãi suất VND không để xảy ra tình trạng chênh lệch lãi suất USD-VND cao gây áp lực lên tỷ giá.

Để đạt mức lãi suất mục tiêu này, NHNN đã sử dụng rất linh hoạt các công cụ thị trường mở để điều tiết thanh khoản. Đơn cử, bên cạnh tín phiếu các kỳ hạn 28 và 91 ngày vẫn phát hành trước đó, từ đầu tháng 8 NHNN mở rộng phát hành thêm kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và kỳ hạn rất dài 140 ngày, đáo hạn trong tuần cuối năm 2018. Thị trường tiền tệ đã tạm thời tìm được điểm cân bằng mới và lượng cung trên thị trường đủ để các thành viên có thể tự điều tiết với sự can thiệp không lớn từ phía NHNN.

Tỷ giá trên thị trường chính thức trong tháng 8 chỉ dao động quanh ngưỡng 23.270/23.350, tăng 0,17% so với cuối tháng 7. Tỷ giá trung tâm cũng được điều chỉnh không nhiều, chỉ tăng 9 đồng so với cuối tháng 7 lên mức 22.678 đồng/USD. 

Nhờ sự ổn định trên thị trường chính thức, tỷ giá tự do đã hạ nhiệt trong nửa cuối tháng 8 – từ việc tăng mạnh và lên mức đỉnh 23.650 đồng/USD vào đầu tháng 8 do chịu tác động tâm lý từ những bất ổn liên tiếp trên thị trường thế giới - về mức 23.480/23.500, chỉ còn tăng 0,13% so với cuối tháng 7.

Bên cạnh đó, NHNN cũng thận trọng trong điều hành tăng trưởng tín dụng. Chỉ thị số 04/CT-NHNN về việc triển khai các nhiệm vụ và giải pháp của ngành ngân hàng cho thấy, NHNN sẽ không điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng trong năm 2018. Đây là biện pháp nhằm ổn định thanh khoản, kiểm soát lạm phát và quan trọng hơn là hướng dòng vốn tín dụng vào các mục tiêu hiệu quả. Nhiều khả năng tăng trưởng tín dụng thực tế trong năm 2018 sẽ thấp hơn tương đối mục tiêu 17%.

Cẩn trọng với những bất ổn từ thị trường thế giới

Báo cáo này chỉ ra 2 rủi ro bên ngoài chính là chiến tranh thương mại và thắt chặt chính sách tiền tệ. Về rủi ro chiến tranh thương mại, cuộc chiến tranh thương mại giữa hai cường quốc Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng và chưa cho dấu hiệu nhượng bộ. Thị trường tiếp tục thấp thỏm chờ đợi quyết định cuối cùng liên quan tới việc Mỹ áp thuế lên 200 tỷ USD tiếp theo và thậm chí 267 tỷ USD còn lại. 

Bên cạnh đó, đàm phán thương mại nhóm Bắc Mỹ dù đã có bước tiến thành công giữa Mỹ và Mexico nhưng lại gặp vướng mắc khi Canada không sẵn sàng nhượng bộ. Trong khi đó, Nhật Bản có thể là mục tiêu tiếp theo Mỹ nhắm tới khi thâm hụt thương mại với Nhật Bản xếp thứ 3 chỉ sau Trung Quốc và Mexico. 

Thị trường tài chính là nơi hứng nhanh chóng khi rủi ro thương mại gia tăng. Đồng CNY tiếp tục mất giá mạnh trong tháng 8, tỷ giá USD/CNY tăng lên mức 6,93CNY/USD, mất 9,6% trong vòng 4 tháng. Thị trường kỳ vọng tỷ giá CNY sẽ ổn định hơn trong thời gian tới khi PBOC mạnh tay hơn trong việc điều hành chính sách tỷ giá.

Về rủi ro thắt chặt tiền tệ, khởi đầu là Mỹ, sau đó nhiều nền kinh tế khác bao gồm cả các nước phát triển và nhóm thị trường mới nổi đang có xu hướng thắt chặt tiền tệ. Hiện đa phần thị trường tin rằng Mỹ sẽ tiếp tục nâng lãi suất thêm 2 lần trong năm 2018. EU giảm mua tài sản từ mức 30 tỷ EUR xuống 15 tỷ EUR/tháng vào tháng 9 và dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm nay. NHTW Anh đã nâng lãi suất 25bps lên 0,75% trong tháng 8 và Canada đã nâng lãi suất 2 lần trong năm nay… 

Các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Argentina… cũng liên tục nâng lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát và bảo vệ đồng nội tệ. Đồng tiền của hầu hết các nước này đều đã mất giá đáng kể trong năm 2018.

Môi trường lãi suất thay đổi sẽ tác động tới sự dịch chuyển dòng vốn toàn cầu và có sức lan tỏa mạnh. Các nền kinh tế phát triển cần chuyển sang chính sách thắt chặt trước nguy cơ tăng trưởng nóng và lạm phát tăng cao sau một thời gian dài nới lỏng tiền tệ. Các thị trường đang phát triển cũng phải đối mặt với rủi ro lạm phát tăng nhanh và sự mất giá đồng nội tệ. Các thị trường này có thể chịu rủi ro lớn khi dòng vốn bị rút ra để tìm về các tài sản an toàn một khi thị trường có biến động mạnh. Báo cáo nhận định: Với độ mở lên tới 100%, Việt Nam khó có thể tránh khỏi những tác động từ bên ngoài khi nền kinh tế thế giới có bất ổn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.272 27.009 29.499 29.972 206,58 214,72
BIDV 23.155 23.245 26.252 26.618 29.487 29.947 211,45 215,07
VietinBank 23.146 23.246 26.197 26.987 29.395 29.955 211,27 215,02
Agribank 23.150 23.240 26.249 26.624 29.501 29.958 211,38 215,05
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.160 23.262 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.270
36.670
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620