09:00 | 07/10/2019

Quỹ đầu tư đối mặt với thách thức tăng trưởng

Chứng khoán lình xình, lượng thanh khoản sụt giảm đáng kể khiến cho kết quả kinh doanh của nhiều quỹ đầu tư danh tiếng không mấy ấn tượng từ đầu năm đến nay. Trong bối cảnh khó khăn, các quỹ đầu tư đã điều chỉnh một chút chiến lược phân bổ, đồng thời tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới để giữ được đà tăng trưởng trong các năm tới.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/9-4/10
Lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp niêm yết HNX tăng 20,2%

Đơn cử như quỹ hàng đầu thị trường là VOF (do Vina Capital quản lý) chứng kiến giá trị tài sản ròng tính đến cuối tháng 8 giảm đến 8,8% so với với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh VN-Index chỉ giảm nhẹ 0,2%, các nhà quản lý VOF có lẽ đang cảm thấy khó thở khi bắt được nhịp đập của thị trường.

Đáng chú ý, VOF đã thoái toàn bộ khoản vốn đầu tư trong công ty hàng không Vietjet khi nhận thấy rủi ro ngày càng gia tăng hơn cũng như để bảo toàn được lợi nhuận. VOF đầu tư hơn 20 triệu USD vào VJC ngay từ khi chưa niêm yết. Việc thoái vốn đã mang lại gần 80 triệu USD tiền thu được từ tiền lãi cổ tức và chuyển nhượng, tương đương với tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) lên tới 86%.

Dù vậy, đợt thoái vốn khỏi VJC không đủ bù đắp lại sự sụt giảm giá trị của các cổ phiếu khác như Hòa Phát hay Coteccons. Trong khi mã PNJ và KDH là các cổ phiếu tăng trưởng tốt nhất trong danh mục quản lý của VOF với mức tăng lần lượt là 7,1% và 8,4%.

Tình hình tương tự cũng diễn ra tại quỹ tỷ đô VEIL (do Dragon Capital quản lý). Nửa đầu năm, quỹ có quy mô khủng nhất Việt Nam công bố mức tăng rất khiêm tốn 0,3% trong nửa đầu năm. Các mã ngân hàng, năng lượng, bán lẻ và phần mềm & dịch vụ là những doanh nghiệp đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận chung của VEIL, trong khi các doanh nghiệp tài nguyên, bất động sản & xây dựng là nguyên nhân khiến VEIL không ghi nhận mức tăng tích cực hơn. Việc nắm giữ họ cổ phiếu có mức vốn hóa nhỏ cũng chưa mang lại hiệu quả, mặc dù có số ít các mã như HDG và PDR lần lượt tăng mạnh đến 20,3% và 25,3%.

Có thể thấy màn trình diễn kém thất vọng của các quỹ đầu tư hàng đầu phản ánh phần nào bộ mặt chung của thị trường chứng khoán trong năm 2019. Mặc dù kinh tế tiếp tục giữ đà tăng trưởng khả quan so với các quốc gia khác trong khu vực, nhưng cuộc chiến thương mại Mỹ- Trung đã tác động sâu sắc đến tâm lý của các nhà đầu tư, khiến cho thanh khoản toàn thị trường sụt giảm mạnh.

Bên cạnh đó, từ đầu năm đến nay, lượng các cổ phiếu niêm yết hay IPO (đặc biệt từ quá trình cổ phần hóa DNNN) bất chợt trầm lắng cũng gây khó khăn cho các quỹ trong việc đầu tư và hiện thực hóa lợi nhuận.

Chưa hết, một yếu tố gây thất vọng cho thị trường là sự kiện hãng FTSE Russell quyết định chưa nâng hạng Việt Nam lên nhóm các thị trường mới nổi hạng hai, mặc dù đã lọt vào danh sách theo dõi nâng hạng từ một năm trước. Nguyên nhân quan trọng khiến FTSE chưa chấp thuận nâng hạng là cơ sở hạ tầng, cơ chế thanh toán bù trừ của thị trường Việt vẫn còn hạn chế, gây khó khăn cho nhà đầu tư thế giới.

Trong bối cảnh còn nhiều thách thức, các quỹ đã điều chỉnh lại chiến lược hoạt động nhằm đạt được kết quả khả quan hơn trong thời gian tới. Trong đó chú trọng phân bổ nhiều hơn nguồn vốn vào các doanh nghiệp chưa niêm yết (private equity) hay thành lập thêm các nhánh đầu tư mạo hiểm (venture capital) vào các statrup. Một số quỹ như VCBF còn đẩy mạnh giải ngân vào kênh trái phiếu vốn đang gia tăng mạnh mẽ để bù đắp lại lợi nhuận chững lại từ kênh cổ phiếu.

Điều lạc quan cho các quỹ là càng về cuối năm, tâm lý thị trường đã ổn định nhiều hơn với giai đoạn đầu năm. Chỉ số VN-Index tuy không tăng mạnh nhưng vẫn giữ được cột mốc hơn 990 điểm. Trong trường hợp tích cực, công ty chứng khoán BSC nhận định VN-Index có cơ hội đóng cửa trên 1.000 điểm vào cuối năm nếu dòng vốn quốc tế phục hồi.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740