10:01 | 02/11/2018

Thị trường vàng ngày 2/11: Lấy lại những gì đã mất

Giá vàng bật tăng trở lại do đồng USD sụt giảm khi đồng bảng Anh tăng vọt nhờ niềm tin vào một bước đột phá trong thỏa thuận liên quan tới các vấn đề hậu Brexit.

Nguồn lực ngoại tệ người dân nắm giữ đã chuyển hóa sang đồng Việt Nam
Động thái mua vàng của các NHTW đang thu hút sự chú ý

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h hôm nay (2/11) giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.231,7 USD/ounce, tăng mạnh 17,6 USD/oz so với mức giá đóng cửa phiên trước đó. Giao dịch trong phiên dao động quanh ngưỡng 1.216,7- 1.238,3 USD/oz.

Giá vàng giao tháng 12 trên sàn Comex New York hiện đứng ở mức 1.233,2 USD/oz. Quỹ SPDR GoldTrust đã mua khối lượng lớn 6,76 tấn vàng vào hôm qua, nâng mức nắm giữ lên 760,82 tấn.

Giá vàng thế giới đảo chiều tăng vọt lên trên ngưỡng 1.230 USD, có lúc xác lập đỉnh 1.238,3 USD/ounce. Như vậy chỉ trong 1 phiên, giá vàng giao ngay đã tăng gần 20 USD, lấy lại thành quả đã mất trong cả 3 phiên giảm trước đó.

“Đà giảm mạnh của chỉ số Dollar Index là một chất xúc tác mạnh cho giá vàng hôm nay”, ông Bart Melek, trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa tại TD Securities cho hay.

Theo đó, đồng USD sụt giảm do đồng bảng Anh tăng vọt nhờ niềm tin vào một bước đột phá trong thỏa thuận liên quan tới các vấn đề hậu Brexit. Bên cạnh đó, đồng bảng Anh tăng còn do các quan chức chính phủ nước Anh đề cập đến việc sẽ mở rộng mạng lưới ngoại giao và muốn tham gia thỏa thuận Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Dù chưa phải là một thành viên CPTPP, nhưng Anh đã bày tỏ ý muốn tham gia thỏa thuận này sau khi rời khỏi EU. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và người đồng cấp Australia Scott Morrison đã ủng hộ Anh gia nhập CPTPP.

Việc đồng bảng Anh và một số đồng tiền chủ chốt khác quay đầu tăng mạnh trở lại đã khiến đồng USD đi xuống.

Giá vàng tăng trở lại còn do lực cầu đối bắt đáy mặt hàng này tăng cao khi mà căng thăng địa chính trị và kinh tế tại nhiều khu vực được dự báo là không thể suy giảm trong ngắn hạn.

Mặc dù vậy, vàng được dự báo khó có thể bứt phá bởi đồng USD vẫn đang trong xu hướng đi lên khi mà nền kinh tế Mỹ vẫn liên tục phát đi những tín hiệu tích cực. Nhiều khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong cuộc họp tháng 12 tới.

Hôm nay theo giờ địa phương, Bộ Lao động Mỹ sẽ công bố báo cáo việc làm hàng tháng. Các nhà phân tích dự đoán, nước này đã tạo thêm được 188.000 việc làm phi nông nghiệp mới. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, con số có thể lớn hơn nữa.

Nếu báo cáo cho kết quả khả quan, chỉ số kinh tế Mỹ tích cực sẽ là yếu tố hỗ trợ cho đồng USD và gây bất lợi cho giá vàng.

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 36,44 - 36,60 triệu đồng/lượng, tăng 30 nghìn đồng/lượng ở chiều mua và 40 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cuối phiên trước đó.

Tương tự, tại Hà Nội, giá vàng SJC hiện đang ở mức 36,44 - 36,62 triệu đồng/lượng, tăng 30 nghìn đồng/lượng ở chiều mua và 40 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI hiện niêm yết giá vàng tại TP.HCM ở mức 36,48 - 36,58 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua và 70 nghìn đồng/lượng ở chiều bán so với cuối phiên trước đó.

Giá vàng tại khu vực Hà Nội được Tập đoàn này niêm yết ở mức 36,45 - 36,55 triệu đồng/lượng, tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua và bán so với cuối phiên trước đó.

Như vậy, vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng hiện có giá 34,70 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,9 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.650
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.650
36.780
Vàng SJC 5c
36.650
36.800
Vàng nhẫn 9999
36.640
37.040
Vàng nữ trang 9999
36.230
36.830