Chỉ số kinh tế:
Ngày 2/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.636 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.405/26.867 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Tín dụng chính sách - Công cụ hữu hiệu giảm nghèo bền vững

Việt Hải
Việt Hải  - 
Những thành quả tín dụng giảm nghèo sẽ tiếp tục lan tỏa trong thời gian tới khi hiện vẫn còn 6,6 triệu người nghèo và đối tượng chính sách đang còn dư nợ với tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đến 31/8/2019 đạt 199.823 tỷ đồng, tăng 57.295 tỷ đồng so với 31/12/2015.
aa
Tín dụng chính sách - Công cụ hữu hiệu giảm nghèo bền vững Tín dụng chính sách đi vào thực tiễn
Tín dụng chính sách - Công cụ hữu hiệu giảm nghèo bền vững Lan tỏa giá trị nhân văn trong chính sách tín dụng
Tín dụng chính sách - Công cụ hữu hiệu giảm nghèo bền vững Tín dụng chính sách: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực
Tín dụng chính sách - Công cụ hữu hiệu giảm nghèo bền vững
Tín dụng chính sách giúp bà con ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS ổn định cuộc sống

Bước đột phá về tư duy chính sách

Nhìn lại việc triển khai hoạt động tín dụng chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2020, điều mà Tổng giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng tâm đắc nhất chính là những hiệu ứng từ việc NHCSXH tiếp tục chủ động phối hợp cùng các Bộ, ngành tham mưu Đảng, Quốc hội, Chính phủ để hoàn thiện cơ chế chính sách góp phần đưa nguồn vốn tín dụng ngày càng thâm nhập sâu rộng, giúp người nghèo và các đối tượng chính sách có cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống.

Điểm nhấn đầu tiên có thể kể đến việc chủ động tham mưu Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 về Kế hoạch triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW. Việc triển khai Chỉ thị này đã tạo ra sự đột phá trong tư duy và cách làm của nhiều địa phương đối với hoạt động tín dụng chính sách. Minh chứng là nguồn vốn ủy thác địa phương trong 05 năm đã tăng thêm 10.709 tỷ đồng, đưa tổng nguồn vốn ủy thác địa phương đến nay đạt 14.516 tỷ đồng.

NHCSXH chủ động báo cáo các Bộ, ngành Trung ương trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo Quốc hội phê chuẩn bố trí nguồn vốn đầu tư công trung hạn từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 để tạo sự ổn định, chủ động trong thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay của các đối tượng thụ hưởng, giúp NHCSXH nâng cao năng lực tài chính, giảm bớt áp lực về nguồn vốn cho vay... Đến ngày 31/8/2019, tổng nguồn vốn tín dụng đạt 207.708 tỷ đồng, tăng 63.052 tỷ đồng so với 31/12/2015.

Cũng trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay, từ thực tế triển khai hoạt động nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người dân, NHCSXH cũng đã cùng các Bộ ngành tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chương trình tín dụng chính sách xã hội mới bổ trợ theo nhu cầu thực tế và bức thiết của người dân “để không ai bị bỏ lại phía sau” như : Cho vay hộ mới thoát nghèo, cho vay giải quyết việc làm, cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài, cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi, cho vay thanh niên xung phong cơ sở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965 - 1975 tại các tỉnh từ Quảng Trị đến Cà Mau... Nâng mức cho vay tối đa chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, chương trình học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, điều chỉnh lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng chính sách hơn với thực tế. Chính phủ cũng đã có chính sách cho vay đối với người dân chịu ảnh hưởng do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế...

HĐQT NHCSXH quyết định nâng mức cho vay tối đa lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải đảm bảo tiền vay và nâng thời hạn cho vay tối đa lên 120 tháng đối với hộ nghèo, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Việc Thủ tướng Chính phủ cho phép bổ sung Chủ tịch UBND cấp xã tham gia Ban đại diện HĐQT NHCSXH cấp huyện từ tham mưu của NHCSXH và các Bộ ngành đã hoàn thiện mô hình quản lý Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội tương ứng với cấp chính quyền, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo hoạt động tín dụng chính sách tại cơ sở, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Thực tiễn đã chứng minh

Nguồn lực thực hiện tín dụng chính sách ngày càng mạnh từ nguồn vốn, đến cơ chế, đặc biệt sự vào cuộc đầy quyết tâm của cả hệ thống chính trị đã góp phần tạo nên những giá trị mới trong công cuộc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo.

Như ông Hà Xao Xuyến, 62 tuổi, dân tộc Mường ở thôn Nhội, xã Long Cốc, huyện Tân Sơn (Phú Thọ). Trước đây vợ chồng và 5 đứa con chỉ có 7 sào ruộng, lại ở vùng đất thường xuyên đối mặt với mưa lũ, nên dù chăm chỉ cấy hái, thậm chí tận dụng thêm khe suối chân núi để dặm thêm lúa nhưng một năm cũng chỉ đủ ăn 9 tháng, 3 tháng còn lại đói nhiều, no ít vì phụ thuộc vào việc lên rừng tìm bương tre đi bán.

Những năm trước, Tổ tiết kiệm và vay vốn, hội, đoàn thể cũng nhiều lần đến nhà vận động vay vốn NHCSXH phát triển kinh tế, nhưng vợ ông e ngại về năng lực sản xuất và khả năng trả nợ. Mãi đến năm 2010, khi con cái đã dần trưởng thành, ông mới quyết tâm vay vốn hộ nghèo 30 triệu đồng mua cặp trâu sinh sản. 05 năm sau, ông bán bớt trâu trả nợ ngân hàng, thậm chí còn xây được cho vợ con mình căn nhà nhỏ nhưng kiên cố vững chắc để che mưa nắng, bước ra khỏi cái nghèo đã vây bám quá nửa đời người. Năm 2015 một lần nữa ông vay thêm 30 triệu đồng vốn hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn nuôi thêm trâu, trồng gần 1ha chè. Mới đây, ông đầu tư 30 hộp ong nuôi và đã thu lần đầu được 40 lít mật. Cùng với đó là gần 1ha chè đã đưa vào khai thác với sản lượng khoảng 8 tấn/năm và 4 con trâu trong chuồng.

Những dòng vốn nhỏ dần thẩm thấu trong đời sống thậm chí lan tỏa ảnh hưởng ra cộng đồng như gia đình ông Xuyến, đang từng bước đẩy lùi những khó khăn của huyện nghèo Tân Sơn (Phú Thọ) vốn thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lũ, 6/17 xã và 99/195 khu dân cư đặc biệt khó khăn, dân số 81.700 người (20.772 hộ), trong đó hộ dân tộc thiểu số chiếm trên 82,3%, chủ yếu là các dân tộc Mường, Dao, Mông. Tổng doanh số cho vay đạt hơn 304 tỷ đồng với 9.102 lượt khách hàng vay. Nguồn vốn tín dụng chính sách từ năm 2016 đến nay đã hỗ trợ gần 2.000 hộ dân thoát nghèo, xóa được trên 240 căn nhà tạm, giúp trên 300 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học, gần 1.300 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được xây dựng, trên 500 lao động là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số được vay vốn đi xuất khẩu lao động... góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện từ 26,38% năm 2016 xuống còn 17,6% đến năm 2018. Những thông số giảm nghèo hiệu quả này đã góp phần đưa Tân Sơn thoát ra khỏi 61 huyện nghèo cả nước năm 2018, huyện cũng đã có 1 xã cán đích nông thôn mới.

Cần nguồn lực đủ mạnh để tối ưu hóa chính sách

Những thành quả tín dụng giảm nghèo sẽ tiếp tục lan tỏa trong thời gian tới khi hiện vẫn còn 6,6 triệu người nghèo và đối tượng chính sách đang còn dư nợ với tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đến 31/8/2019 đạt 199.823 tỷ đồng, tăng 57.295 tỷ đồng so với 31/12/2015. Về cơ bản hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào DTTS đã được thụ hưởng tín dụng chính sách xã hội, trong đó có hộ vay vốn từ 02 đến 03 chương trình tín dụng chính sách...

Tuy nhiên, để thực hiện tốt hơn nữa chương trình tín dụng chính sách, NHCSXH mong muốn các địa phương cùng MTTQ và các tổ chức hội, đoàn thể tiếp tục triển khai có hiệu quả hơn nữa Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. NHCSXH đề nghị các Bộ ngành cân đối, bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách.

Trong đó bố trí vốn từ ngân sách Nhà nước theo kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 đã phê duyệt cho NHCSXH. Cùng với nhiều địa phương, NHCSXH kiến nghị Chính phủ các Bộ ngành khi xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách có liên quan đến tín dụng chính sách xã hội phải đồng thời tính toán bố trí đủ nguồn lực, đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của chương trình. Đồng thời, báo cáo Trung ương cho phép tăng hạn mức phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh cho NHCSXH phù hợp với tỷ lệ tăng trưởng được Thủ tướng Chính phủ giao, nhằm đáp ứng nguồn lực thực hiện chương trình tín dụng chính sách có thời hạn cho vay dài.

NHCSXH cũng đề xuất Chính phủ kiến nghị Quốc hội bố trí, quy định một nguồn vốn riêng trích từ nguồn ngân sách Trung ương cho Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, trong đó có khoản mục dành riêng quy định về nguồn vốn tín dụng chính sách đối với đồng bào DTTS. “Các chính sách đối với hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS và các đối tượng chính sách khác theo hướng tách bạch đối tượng thụ hưởng, giảm cho không đến cá nhân và tăng mức đầu tư, hỗ trợ qua tín dụng; điều chỉnh đối tượng, mức vay, lãi suất, thời hạn cho vay phù hợp với yêu cầu thực tiễn”, Tổng giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng đề xuất.

Việt Hải

Tin liên quan

Tin khác

Hơn 200 nhà nông ở Đồng Tháp được hỗ trợ canh tác lúa phát thải thấp

Hơn 200 nhà nông ở Đồng Tháp được hỗ trợ canh tác lúa phát thải thấp

Hơn 200 hộ nông dân đã được hỗ trợ áp dụng phương pháp canh tác lúa phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và quản lý phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn.
Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Nông nghiệp giữ đà tăng trưởng, bài toán lớn ở 4 tháng cuối năm

Sau 8 tháng, nông nghiệp tiếp tục giữ đà tăng trưởng, xuất khẩu đạt 49,3 tỷ USD, nhưng áp lực tăng tốc đang dồn vào những tháng cuối năm.
Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Công nghệ sinh học trở thành động lực mới cho nền nông nghiệp xanh

Không chỉ tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ sinh học đang mở ra một hướng tiếp cận khác cho nông nghiệp Việt Nam đó là sản xuất nhiều hơn nhưng sử dụng ít tài nguyên hơn, giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học, tận dụng tốt hơn phụ phẩm và nâng giá trị nông sản ngay từ đồng ruộng. Khi yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng trở thành điều kiện bắt buộc của thị trường, đây được xem là một trong những chìa khóa để nông nghiệp chuyển từ tư duy “tăng sản lượng” sang “tăng giá trị”.
Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Tăng tốc chống khai thác IUU, siết chặt đội tàu

Đà Nẵng đang bước vào giai đoạn cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tập trung rà soát đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác, truy xuất nguồn gốc và xử lý nghiêm vi phạm. Đây được xem là bước quan trọng để TP. Đà Nẵng cùng cả nước khắc phục các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC), hướng tới gỡ “thẻ vàng” thủy sản ngay trong năm 2026.
Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Đầu ra thiếu ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết với doanh nghiệp chưa bền vững và khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế đang là những “nút thắt” của nông nghiệp Đà Nẵng. Thành phố đang tìm cách đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến gần hơn với nông dân, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh dựa vào sản lượng và xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình tạo giá trị cao hơn. Công nghệ, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng và khai thác thị trường gần 100 triệu dân được xem là những động lực quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD và tăng trưởng bền vững.
Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành một tiêu chuẩn cạnh tranh mới của ngành chăn nuôi. Nhưng để một mã QR thực sự tạo thêm giá trị cho sản phẩm, phía sau đó phải là cả một chuỗi sản xuất được kiểm soát, kết nối dữ liệu và quan trọng hơn, có đầu ra ổn định.
Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh trong khi vụ thu hoạch lớn tại Tây Nguyên mới bước vào chính vụ. Cánh cửa thị trường Ấn Độ vừa mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng để tiến tới mốc 4 tỷ USD, doanh nghiệp không chỉ cần thêm thị trường mà còn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Sau 10 năm triển khai Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Đà Nẵng huy động hiệu quả sức mạnh của cả hệ thống chính trị và người dân, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa và giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở.
Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Cơ giới hóa đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nông nghiệp Việt Nam nâng năng suất, giảm chi phí và tiến gần hơn tới sản xuất hiện đại. Nhưng đằng sau những con số tăng trưởng về máy móc vẫn còn một nghịch lý là nơi đã cơ giới hóa cao thì chưa đồng bộ, nơi cần cơ giới hóa mạnh lại thiếu máy móc phù hợp. Nếu không giải được bài toán này, đầu tư công nghệ rất dễ rơi vào tình trạng “có máy nhưng chưa tạo ra giá trị”.