Các dịch vụ ngân hàng cho lĩnh vực “tam nông” không ngừng được mở rộng

10:35 | 05/09/2018

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú đã nhấn mạnh như vậy tại Hội thảo “Những thông lệ tốt nhất về tài chính nông nghiệp, nông thôn dành cho người nghèo: Kinh nghiệm của Việt Nam” do Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp nông thôn châu Á – Thái Bình Dương, Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế tổ chức, ngày 5/9, tại Hà Nội.

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại Hội thảo sáng 5/9

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú khẳng định, sau hơn 30 năm đổi mới, tài chính cho khu vực nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam luôn được Đảng, Chính phủ và ngành Ngân hàng đặc biệt quan tâm. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay, các chương trình tín dụng của ngành Ngân hàng dành riêng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cho người nghèo là một trong những “trụ cột” của hệ thống chính sách giảm nghèo ở Việt Nam.

Dòng vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần quan trọng cùng các dòng vốn đầu tư khác của nhà nước, của doanh nghiệp và người dân giúpViệt Nam: Hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói vào năm 2002, sớm hơn 13 năm so với mục tiêu đặt ra; Đưa Việt Nam từ một nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp chuyển mình thành một quốc gia có thu nhập trung bình từ năm 2010 với quy mô kinh tế đạt trên 220 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.385 USD năm 2017.

Theo Phó Thống đốc, tín dụng với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và người nghèo được thể hiện qua một số kết quả nổi bật.

Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách tín dụng không ngừng được đổi mới, hoàn thiện mạnh mẽ theo hướng mở rộng cả về đối tượng, hạn mức và thủ tục vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tạo công ăn việc làm, từng bước nâng cao điều kiện sống, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Các chính sách tín dụng được cụ thể hóa thành nhiều chương trình tín dụng, như thu mua lương thực tạm trữ; cho vay tái canh cây cà phê; cho vay đánh bắt thủy sản xa bờ; cho vay giảm tổn thất sau thu hoạch; các chương trình tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách của NHCSXH… Các thông lệ tài chính tốt cho nông nghiệp, nông thôn ngày càng được đổi mới phù hợp với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới như: cho vay chuỗi giá trị nông sản; cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cho vay nông nghiệp hữu cơ…

Thứ hai, mạng lưới các tổ chức tín dụng tham gia cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn không ngừng được mở rộng về quy mô, hệ thống mạng lưới, đa dạng về loại hình hoạt động với 47 ngân hàng, 1.181 Quỹ tín dụng nhân dân, 27 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 4 tổ chức tài chính vi mô và trở thành kênh truyền dẫn vốn hiệu quả đến tận từng thôn bản, làng xã trên khắp mọi miền tổ quốc. Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại được các TCTD chú trọng đầu tư, đổi mới, tạo điều kiện cho khách hàng dễ dàng tiếp cận với chi phí giao dịch thấp như: Internet banking, Mobile banking…

Thứ ba, tập trung thực hiện các giải pháp huy động nguồn lực tài chính trong xã hội phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và xóa đói, giảm nghèo khu vực nông nghiệp, nông thôn trên nguyên tắc tách bạch giữa tín dụng thương mại và tín dụng chính sách.

Thứ tư, học hỏi kinh nghiệm các nước và vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tiễn tại Việt Nam với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, đoàn thể, tổ chức phi chính phủ. Trong đó, các thông lệ tài chính cho khu vực nông thôn được triển khai một cách bài bản, sáng tạo thu nhiều kết quả tốt như: Cho vay qua các tổ chức đoàn thể (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…); hình thành tổ vay vốn và tiết kiệm, tạo sự tương trợ, giúp đỡ gắn kết trong cộng đồng; hình thành các điểm giao dịch tại xã; tổ chức cửa hàng tiêu thụ nông sản sạch của chị em nghèo… với phương châm sáng tạo “chúng ta trao cho người nghèo cần câu để câu cá nhưng lại phải giúp bán con cá ở đâu”…

“Nhờ các cơ chế chính sách, phát triển của hệ thống các TCTD…, mà tín dụng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, cho người nghèo có mức tăng vượt bậc: Dư nợ tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng bình quân gần 20%/năm, tín dụng chính sách tăng bình quân trên 13%/năm, đáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống người dân.” – Phó Thống đốc nhấn mạnh.

Toàn cảnh Hội thảo

Minh chứng thêm cho những thành công cho vay nông nghiệp, nông thôn, ông Dương Quyết Thắng – Tổng giám đốc NHCSXH cho biết, nguồn vốn tín dụng chính sách của ngân hàng đã được đầu tư đến 100% xã phường, thị trấn trên cả nước. Trong hơn 15 năm qua, nguồn vốn tín dụng từ NHCSXH đã góp phần giúp trên 31,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn, góp phần giúp trên 4,5 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút và tạo việc làm cho gần 3,4 triệu lao động; hơn 3,5 triệu học sinh sinh viên có hoàn canh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng trên 9,7 triệu công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn…

“Hoạt động tín dụng của NHCSXH đã đáp ứng kịp thời, có hiệu quả nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách ở nông thôn, góp phần giảm nghèo, nâng cao mức sống của người nông dân, thu hẹp dần chênh lệch thu nhập giữa các vùng và ngăn chặn nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn.” – ông Thắng nhấn mạnh.

Ông Prasun Kumar Das - Tổng Thư ký Hiệp hội các tổ chức tín dụng Châu Á - Thái Bình Dương (APRACA) cho biết, trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia tích cực vào phát triển tài chính nông nghiệp, nông thôn để mang lại sự phát triển toàn diện trên toàn quốc và đã tuân thủ các nguyên tắc của các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. APRACA đang hỗ trợ hai ngân hàng (Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam) xây dựng năng lực để đạt các mục tiêu đó thông qua trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức khác, thông qua thăm quan các mô hình thành công nhất và đào tạo cán bộ.

APRACA cũng hỗ trợ hai tổ chức thành viên ở Việt Nam để xây dựng các thể chế ở nông thôn nhằm cung cấp tín dụng cần thiết cho việc phát triển và khởi nghiệp. APRACA cam kết ủng hộ mọi sáng kiến ở Việt Nam để cải thiện dòng chảy tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp để hỗ trợ những cộng đồng người dân sinh sống trên nhiều vùng miền với điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau.

Hội thảo "Những thông lệ tốt nhất về tài chính nông nghiệp, nông thôn dành cho người nghèo: Kinh nghiệm của Việt Nam" đã thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm có cái nhìn toàn diện về lĩnh vực tài chính nông nghiệp, nông thôn.

Đức Nghiêm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.320 23.530 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.380 23.560 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.345 23.535 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.350 23.520 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.350 23.520 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.330 23.530 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.360 23.560 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.380 23.520 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
48.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
48.000
Vàng SJC 5c
47.000
48.020
Vàng nhẫn 9999
44.500
45.600
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.400