Cập nhật thị trường tiền tệ tuần từ 11-15/2/2019

18:20 | 18/02/2019

Bộ phận Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa phát hành báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tuần từ 11-15/2/2019 với một số điểm đáng chú ý.

Trong tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng 51.558 tỷ đồng khi có tới 65.354 tỷ đồng OMO đến hạn mà Ngân hàng Nhà nước chỉ mua mới kỳ hạn 7 ngày 13.796 tỷ đồng, khối lượng OMO lưu hành giảm liên tục từ mức hơn 150 nghìn tỷ đồng về 101 nghìn tỷ đồng. Kênh tín phiếu vẫn không phát sinh giao dịch và duy trì số dư bằng 0.

Dòng tiền lưu thông quay trở lại hệ thống ngân hàng sau đợt Tết Nguyên đán đã khiến cho thanh khoản của các ngân hàng thương mại dồi dào trở lại. Lãi suất trên liên ngân hàng giảm ở tất cả các kỳ hạn, hiện lãi suất qua đêm là 4,52%/năm, lãi suất 1 tuần 4,64%. Giai đoạn cao điểm đã qua, lãi suất trên liên ngân hàng khả năng sẽ duy trì ổn định ở vùng giá 4-4,75%/năm (mức lãi suất OMO hiện hành).

Lãi suất huy động hầu hết các ngân hàng duy trì ổn định và chỉ tăng 10-20 điểm cơ bản các kỳ hạn 6 tháng trở lên ở một số ngân hàng theo các chương trình xuân, với thời hạn chương trình ngắn, để tranh thủ hút tiền sau Tết.

Trong 4 năm gần đây, tăng trưởng huy động duy trì ở mức thấp hơn tăng trưởng tín dụng. Những diễn biến tích cực cả trong nước và quốc tế thời gian gần đây vừa giải tỏa áp lực đối với lãi suất nhưng cũng khiến tăng sức cạnh tranh của các kênh đầu tư khác so với tiền gửi. Vì thế, lãi suất huy động sẽ vẫn neo ở mức cuối tháng 1, xác suất giảm khá thấp.

Trên thị trường ngoại hối, đồng USD hồi phục, tỷ giá giao dịch và tỷ giá trung tâm đều tăng. Đồng USD hồi phục khá mạnh khi tăng lần lượt 1,3%; 1,6% và 1,5% với EUR, GBP và JPY trong nửa đầu tháng 2 vừa qua. Chỉ số USD tăng từ 95,6 vào cuối tháng 1 lên 97,1 vào ngày 13/2 trước khi giảm về 96,9 khi đón nhận thông tin doanh số bán lẻ tháng 12/2018 sụt giảm mạnh nhất trong gần 10 năm.

Đồng USD hồi phục cũng khiến giá vàng chững lại sau khi đã tăng khá mạnh 3 tháng gần đây.

Đối với tỷ giá USD/VND, so với ngày làm việc cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ (1/2), tỷ giá không đổi ở chiều mua vào và nhích tăng +10 đồng/USD ở chiều bán ra lên 23.150/23.250 đồng/USD. Trên thị trường tự do, tỷ giá tăng lần lượt 30 đồng/USD và 20 đồng/USD ở 2 chiều mua vào bán ra, lên mức 23.200/23.220 đồng/USD.

Đáng chú ý là tỷ giá trung tâm đã tiếp nối xu hướng tăng sau 1 tuần gián đoạn vào cuối tháng 1. Cụ thể, tỷ giá trung tâm đã tăng thêm 48 đồng/USD trong tuần và tăng 192 đồng/USD (+0,8%) trong vòng 3 tháng qua, lên mức 22.915 đồng/USD.

Mặc dù chênh lệch lãi suất VND-USD có xu hướng thu hẹp nhưng vẫn duy trì ở mức 1,8-2%. Cung cầu ngoại tệ ổn định và môi trường quốc tế không có nhiều biến động nên tỷ giá VND/USD sẽ không có nhiều biến động, dự kiến sẽ vẫn dao động quanh mức tỷ giá mua vào của Ngân hàng Nhà nước là 23.200 đồng/USD.

Trên thị trường trái phiếu chính phủ, lợi tức tiếp tục giảm trên cả sơ cấp và thứ cấp. Thị trường sơ cấp tiếp tục sôi động khi khối lượng đăng ký gấp 4 lần khối lượng chào thầu, tỷ lệ trúng thầu/chào thầu là 93%. Trong đó, 2 kỳ hạn 10 và 15 năm vẫn được quan tâm nhất, dù tổng lượng chào thầu lên tới 9.000 tỷ đồng nhưng 100% đã được mua hết.

Lãi suất trúng thầu tiếp tục giảm ở cả 4 kỳ hạn, mức giảm các kỳ hạn là 7, 10, 15 và 30 năm lần lượt là 12 điểm cơ bản, 10 điểm cơ bản, 9 điểm cơ bản và 1 điểm cơ bản so với phiên trúng thầu gần nhất.

Diễn biến lợi tức trên thứ cấp cũng tương đồng, lợi tức trái phiếu chính phủ giảm mạnh từ 9-63 điểm cơ bản ở các kỳ hạn từ 1-15 năm trong đó kỳ hạn càng ngắn càng giảm mạnh. Cụ thể, mức lợi tức hiện tại của các kỳ hạn 1 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm là 2,61%; 3,17%; 3,57%; 4,63% và 5%.

Lợi tức trái phiếu chính phủ đã có bước sụt giảm rất mạnh kể từ đầu năm 2019 đến nay, hiện đã quay về mức lợi tức cách đây 7 tháng, các thành viên thị trường vừa qua đã đẩy mạnh mua vào cả trên sơ cấp và thứ cấp với kỳ vọng lợi tức còn tiếp tục giảm khi áp lực tăng lãi suất từ Fed không còn cùng những diễn biến tích cực của thị trường tiền tệ trong nước.

Thanh khoản thị trường cải thiện, tổng khối lượng giao dịch đạt 33 nghìn tỷ đồng, tăng 33% so với tuần trước tết. Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục mua ròng 724 tỷ đồng trong đó mua ròng các kỳ hạn 12 tháng đến 15 năm, nhiều nhất là kỳ hạn 3-5 năm (423 tỷ đồng), kỳ hạn 10 năm (252 tỷ đồng) và bán ròng 382 tỷ đồng kỳ hạn 25-30 năm.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400