Cơ cấu lại nguồn vốn huy động

08:32 | 27/05/2020

Theo ông Quản Trọng Thành - Công ty chứng khoán Maybank Kim Eng, NHNN hạ mức trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng có tác động tích cực đến chi phí huy động vốn trung bình của các ngân hàng. Bởi trước khi áp mức trần lãi suất tiền gửi mới, tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng chiếm khoảng 25 - 30% tổng số tiền gửi hệ thống ngân hàng, với mức lãi suất khoảng 4,5 - 4,75%/năm.

SCB triển khai sản phẩm “Tiết kiệm Phát Lộc Tài”
Tiết kiệm HDBank, mua sắm thả phanh
Ưu đãi lãi suất khi gửi tiết kiệm online tại Sacombank

Sau hai lần NHNN giảm trần lãi suất huy động từ đầu năm đến nay, hiện các NHTM huy động vốn kỳ hạn dưới 6 tháng lãi suất tối đa 4,25%/năm. Nhưng người gửi tiền kỳ hạn từ 6 tháng trở lên vẫn nhận được lãi suất hấp dẫn. Theo quan sát của phóng viên, đến cuối tháng 5/2020 có khoảng 20 ngân hàng áp dụng mức lãi suất kỳ hạn 6 tháng ở mức 6,1 - 6,9%/năm, một số ngân hàng quy mô nhỏ áp dụng mức trên 7%/năm.

Ảnh minh họa

Cũng có ý kiến tỏ ra lo ngại khi NHNN giảm lãi suất huy động tối đa đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng sẽ khiến các ngân hàng khó khăn hơn trong huy động vốn. Tuy nhiên, xét trong bối cảnh hiện tại, các kênh đầu tư khác như vàng, chứng khoán, bất động sản đều tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh đó, nắm giữ ngoại tệ mức sinh lời là không lớn do lãi suất huy động USD vẫn duy trì ở mức 0% và tỷ giá ổn định. Bởi vậy, tiết kiệm vẫn là lựa chọn hàng đầu của nhiều người dân. Đặc biệt, việc NHNN giảm lãi suất huy động tối đa đối với các kỳ hạn ngắn, còn khuyến khích khách hàng gửi tiền với kỳ hạn dài hơn, qua đó tạo cơ hội để các TCTD cơ cấu lại nguồn vốn huy động.

Số liệu thống kê cũng cho thấy, tính đến giữa tháng 5 tổng nguồn vốn huy động toàn hệ thống vẫn tăng 1,74% so với cuối năm 2019. Những thị trường lớn như TP.HCM, trong 4 tháng đầu năm nay vốn huy động ngắn hạn của các TCTD có xu hướng giảm nhẹ nhưng các kỳ hạn trung và dài hạn lại đang tăng lên.

Trên thực tế, hiện mặt bằng lãi suất huy động các kỳ dưới 6 tháng có xu hướng giảm đồng loạt ở các NHTM theo quy định. Nhưng một số NHTM lại đang khuyến khích khách hàng của mình bằng cách chuyển kỳ hạn dưới 6 tháng sang trên 6 tháng hoặc kỳ hạn dài hơn để giữ chân khách hàng.

Cụ thể, hiện các NHTM áp dụng lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức thấp tuy nhiên vẫn giữ nguyên mức lãi suất các kỳ hạn 7-9 tháng, một số NHTM duy trì lãi suất tiết kiệm 9 tháng ở mức 7-7,35%/năm như VietBank, ABBank, PVcomBank, VietCapitalBank, DongABank, BacABank. Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng ABBank, VIB, SCB, HDBank… áp dụng lãi suất kỳ hạn 12 tháng đối với số tiền gửi dưới 1 tỷ đồng ở mức 7,3-7,6%/năm.

Nhiều ngân hàng còn giữ khách hàng bằng tăng lãi suất tiền gửi online các kỳ hạn từ 6 và 7 tháng. Một số ngân hàng hiện có lãi suất tiết kiệm online cao hơn so với lãi suất gửi tại quầy từ 0,1% - 1,25% tùy từng kỳ hạn.

Ông Võ Tấn Hoàng Văn - Tổng giám đốc SCB cho biết, thanh khoản trong hệ thống những tháng đầu năm 2020 vẫn ổn định và thậm chí tốt, nên huy động vốn không phải mối lo lớn của các ngân hàng.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc các NHTM giảm lãi suất huy động ở một số kỳ hạn ngắn cũng không ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống. Bên cạnh đó, NHNN cũng đồng thời giảm các mức lãi suất điều hành trong cân đối tổng thể nên không đáng lo. Ngoài ra, trong 3 - 4 năm qua, lạm phát của Việt Nam tương đối ổn định, dao động xung quanh mức 4%. Với mức lạm phát này, lãi suất bình quân rơi vào khoảng 4% - 5%/năm vẫn bảo đảm nguyên tắc lãi suất thực dương.

Ông Quản Trọng Thành - Công ty chứng khoán Maybank Kim Eng (MBKE) cho rằng, sau đợt cắt giảm lãi suất điều hành vào tháng 3/2020, chỉ có khoảng 20.800 tỷ đồng được các NHTM sử dụng qua thị trường OMO, tương đương 0,2% tổng dư nợ của các ngân hàng. Trên thực tế nhờ việc tập trung huy động vốn dân cư, thanh khoản của các NHTM vẫn đang rất tốt nên ít có nhu cầu vay từ NHNN.

Theo ông Thành, NHNN hạ mức trần lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng có tác động tích cực đến chi phí huy động vốn trung bình của các ngân hàng. Bởi trước khi áp mức trần lãi suất tiền gửi mới, tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng chiếm khoảng 25 - 30% tổng số tiền gửi hệ thống ngân hàng, với mức lãi suất khoảng 4,5 - 4,75%/năm.

MBKE cũng nhận định, mức trần lãi suất tiền gửi thấp hơn có thể giúp giảm chi phí vốn trung bình của các ngân hàng khoảng 0,15%. Việc giảm chi phí huy động vốn sẽ làm giảm nhẹ tác động của sự sụt giảm chi phí cho vay trung bình lên biên lãi ròng của các ngân hàng. Từ đó giúp các NHTM không bị ảnh hưởng nhiều khi thực hiện giảm lãi suất cho vay đối với các chương trình hỗ trợ tín dụng theo chỉ đạo của NHNN mà vẫn có dư địa để tăng trưởng tín dụng.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050