Cơ hội nào cho nhà đầu tư trong thị trường nhiều biến động

15:51 | 04/10/2022

Theo các chuyên gia chứng khoán, trong giai đoạn hiện nay, việc giao dịch ngắn hạn sẽ gặp nhiều rủi ro hơn. Nhà đầu tư nếu muốn tham gia thị trường nên chuẩn bị sẵn tâm lý nắm giữ trong dài hạn.

Ông Trần Thăng Long, Giám đốc Phân tích, Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC) cho biết, trong giai đoạn Covid-19, đa số các quốc gia đều thi hành những chính sách hỗ trợ nền kinh tế, với nhiều ngân hàng trung ương đã thi hành chính sách nới lỏng. Sau khi dịch bệnh đã được kiểm soát, các ngân hàng trung ương phải đối diện với bài toán lạm phát tăng, quy mô không phải chỉ ở một vài quốc gia mà là toàn cầu, đặc biệt là các khu vực kinh tế phát triển như Liên minh châu Âu (EU) hay Mỹ. Do vậy, các ngân hàng trung ương đều chuyển sang hướng thắt chặt chính sách hơn và đều nâng mặt bằng lãi suất lên để chống lạm phát.

co hoi nao cho nha dau tu khi thi truong nhieu bien dong

Hiện tại, các quốc gia xung quanh Việt Nam cũng như các quốc gia ở châu Âu hay Mỹ đều tăng lãi suất và không chỉ một lần mà tới 3-4 lần kể từ đầu năm đến nay. Vì thị trường tài chính có tính liên thông rất cao nên Việt Nam cũng cần phải nâng lãi suất. Nếu chúng ta duy trì một chính sách ngược lại với chính sách của các quốc gia khác sẽ có những ảnh hưởng nhất định. Do vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã không có nhiều lựa chọn khi buộc phải đưa ra một chính sách phù hợp chung với thế giới hiện nay.

“Đương nhiên khi lãi suất tăng, các hoạt động kinh tế có xu hướng chậm lại, do vậy tăng trưởng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, trước mắt tôi nghĩ sẽ không có ảnh hưởng quá nhiều. Quý III, quý IV năm nay kể cả khi tăng trưởng rất bình thường thì tỷ lệ so với năm ngoái vẫn sẽ đạt mức cao hơn cả kỳ vọng đặt ra nếu so với chỉ tiêu của Chính phủ, Quốc hội. Trong tương lai sắp tới, có thể ảnh hưởng sẽ lớn hơn bởi chính sách tiền tệ sẽ không có tác động ngay lập tức mà thông thường sẽ có độ trễ khoảng 3-6 tháng”, ông Long trao đổi trong Talk show Phố Tài chính trên VTV8.

Ông Quản Trọng Thành, Giám đốc Khối Phân tích, Maybank Investment Bank thì lý giải, việc các nước sau khi “bơm tiền” thì lạm phát tăng nên họ bắt buộc phải tăng lãi suất. Mỹ tăng lãi suất rất quyết liệt và đồng USD đã tăng giá, tất cả các đồng tiền quan trọng như yên Nhật, nhân dân tệ Trung Quốc, euro hay đồng bảng Anh đều bị mất giá, USD trở thành kênh trú ẩn an toàn. Nhu cầu tích trữ USD, thậm chí đầu cơ giá tăng lên, gây áp lực tỷ giá lên tất cả các đồng tiền.

Trong bối cảnh như vậy, nếu chỉ dùng công cụ bán ngoại hối sẽ ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối quốc gia. Đến lúc này, chúng ta phải dùng công cụ tiếp theo đó là tăng lãi suất. Tất nhiên, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tính toán rất kỹ, làm sao để không gây ra việc chi phí vốn tăng quá nhanh, ảnh hưởng đến cả hoạt động doanh nghiệp trong nước.

“Đợt vừa rồi tăng lãi suất là tình thế bắt buộc, nhưng vẫn hợp lý. Theo tôi tính toán, việc tăng 1% lãi suất chính sách và những phần tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng thì các ngân hàng tại Việt Nam vẫn đủ sức để không phải tăng lãi suất cho vay quá nhiều. Hệ thống ngân hàng vẫn đảm bảo được tăng trưởng lợi nhuận, còn doanh nghiệp cũng sẽ chưa bị ảnh hưởng. Chúng tôi vẫn duy trì dự báo tăng trưởng GDP của năm 2022 ở mức 8%”, ông Thành cho biết, đồng thời nhận định: “Tác động từ việc tăng lãi suất sẽ không quá lớn, sẽ làm giảm từ 3-5% lợi nhuận của cả thị trường. Đối với ngân hàng, mức giảm lớn nhất khoảng 5%. Những ngành tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao là bán lẻ, ngân hàng, bởi vì ngân hàng vẫn đảm bảo được tốc độ tăng trưởng tín dụng, thêm vào đó họ có khả năng điều tiết lợi nhuận thông qua quỹ dự phòng”.

Chia sẻ về cách thức đầu tư chứng khoán trước nhiều biến động như trên, ông Quản Trọng Thành cho rằng cơ hội để đầu tư giao dịch ngắn hạn sẽ rất khó. Nên nhà đầu tư cần chú ý giữ một trạng thái tiền để nếu có những sự điều chỉnh đến mức định giá và mức sinh lời hợp lý thì hãy nắm bắt cơ hội. Nếu mục tiêu khoảng 6 tháng, nghĩa là qua quý IV đến đầu năm 2023, những cổ phiếu liên quan đến đầu tư công đang giảm mạnh như hiện nay lại là cơ hội để nhà đầu tư tích lũy. Tiếp đến là cổ phiếu khu công nghiệp, bởi tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp Việt Nam đã lên mức rất cao và giá thuê đã tăng hơn 15%.

Ông Trần Thăng Long thì cho rằng đối với giai đoạn thị trường biến động chung lớn như hiện nay, cộng với những yếu tố bên ngoài không xác định được thì các hoạt động đầu tư ngắn hạn hay thường gọi là trading nên hạn chế hoặc chỉ nên duy trì một mức độ nhất định theo khả năng kiểm soát rủi ro của chính nhà đầu tư. Còn hoạt động đầu tư dài hạn thì giai đoạn này là giai đoạn thử thách với nhà đầu tư. Do vậy, nhà đầu tư có thể cân nhắc đến những ngành nào ít chịu ảnh hưởng chung bởi lãi suất hay những yếu tố bên ngoài.

Từ kinh nghiệm nhiều năm, ông Long cho biết, những ngành liên quan đến tiêu dùng hoặc những ngành thiết yếu như điện, nước, gas đều là những ngành tăng trưởng rất ổn định và không bị ảnh hưởng quá nhiều. Còn về mặt dài hạn, đối với Việt Nam thì mức P/E của thị trường chung rơi vào khoảng 10 lần, đang là một mức khá hấp dẫn với các nhà đầu tư.

Hương Ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750