Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, thích ứng nhanh với tình hình mới

11:20 | 28/12/2021

Ngày 28/12/2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức họp báo Triển khai nhiệm vụ Ngành ngân hàng năm 2022. Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chủ trì buổi họp báo.

dieu hanh chinh sach tien te linh hoat thich ung nhanh voi tinh hinh moi
Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú phát biểu tại buổi họp báo

Kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

Với sự chủ động, linh hoạt, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngành Ngân hàng đã thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động bám sát tình hình, tập trung mọi nguồn lực tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, góp phần thúc đẩy phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Phát biểu tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho biết, trong năm 2021, ngành Ngân hàng đã thích ứng rất nhanh với những điều kiện mới để hoạt động ngân hàng vẫn tiếp tục đảm bảo thực hiện được các mục tiêu lớn. Theo đó, để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, NHNN đã điều hành CSTT theo cơ chế linh hoạt, uyển chuyển và thích ứng rất nhanh với tình hình dịch kể cả các phương án dài hạn trong thời gian rất ngắn, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và chính sách vĩ mô khác.

Bên cạnh đó, NHNN cũng điều hành các giải pháp tín dụng phù hợp, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tập trung vào lĩnh vực sản xuất-kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng, đáp ứng nhu cầu hợp pháp của người dân. Với hệ thống các chỉ đạo và giải pháp đồng bộ của NHNN, tín dụng toàn nền kinh tế tăng ngay từ đầu năm và cao hơn so cùng kỳ năm 2020.

Tính đến 22/12/2021, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 12,68% so với cuối năm 2020, tăng khoảng 14,57% so với cùng kỳ năm 2020. Dư nợ tín dụng đối với 23 chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH đến 30/11/2021 đạt 245.199 tỷ đồng, tăng 8,4% so với năm 2020, với hơn 6,4 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ.

Đáng chú ý, ngành Ngân hàng đã triển khai quyết liệt các giải pháp, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn do dịch Covid-19. Đến nay, các tổ chức tín dụng (TCTD) đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ với giá trị nợ lũy kế từ khi có dịch khoảng 607.000 tỷ đồng, hiện có khoảng 775.000 khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch được cơ cấu lại nợ, với dư nợ trên 296.000 tỷ đồng.

Miễn, giảm, hạ lãi suất cho trên 1,96 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ hơn 3,87 triệu tỷ đồng; tổng số tiền lãi lũy kế đến nay TCTD đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng khoảng 34.900 tỷ đồng; ho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước dịch với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đến nay đạt trên 7,4 triệu tỷ đồng cho khoảng trên 1,3 triệu khách hàng.​

Đồng thời, tiếp tục thực hiện các giải pháp về miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán hỗ trợ người dân, doanh nghiệp khắc phục khó khăn do dịch Covid-19; tổ chức các Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp tại các địa phương trên cả nước; Triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ cho các đối tượng theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, NHNN thực hiện tái cấp vốn đối với TCTD sau khi TCTD cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA) vay; đồng thời tháo gỡ khó khăn trong việc thu mua lúa gạo tại khu vực đồng bằng Sông Cửu long (ĐBSCL).

Công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục dược triển khai quyết liệt, hiệu quả. Theo đó, trước tình hình phức tạp của dịch Covid-19, NHNN đã chỉ đạo các TCTD đánh giá thực trạng nợ xấu để xây dựng kế hoạch xử lý nợ xấu bảo đảm phù hợp với diễn biến dịch bệnh; đồng thời tiếp tục tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế phát sinh nợ xấu mới.

Cũng trong năm 2021, NHNN đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động, chỉ thị triển khai, đặc biệt là rà soát và chỉnh sửa hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho hoạt động hệ thống ngân hàng ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số. Nhờ đó, trong 10 tháng đầu năm 2021, giao dịch qua POS tăng tương ứng 14,25% và 12,6% về số lượng và giá trị giao dịch; qua kênh Internet tăng tương ứng 49,39% và 29,14%; qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 72,67% và 85,09%; thanh toán qua kênh QR code tăng tương ứng 54,24% và 120,64% với hơn 90.000 điểm chấp nhận thanh toán qua QR code... so với cùng kỳ năm 2020.

NHNN đã hoàn thành các nhiệm vụ trong kế hoạch triển khai Chính phủ điện tử, góp phần hiện đại hóa công tác quản lý và điều hành hoạt động ngân hàng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của NHNN và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng; góp phần tăng xếp hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam.

Trong bối cảnh dịch covid 19 diễn biến phức tạp, cả nước thực hiện giãn cách tăng cường, trên cơ sở bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, NHNN đã chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch truyền thông phù hợp, hiệu quả nhằm góp phần minh bạch hóa thông tin, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Đặc biệt, NHNN triển khai các chương trình truyền thông giáo dục tài chính trên truyền hình, điển hình là chương trình“Tay hòm chìa khóa” đã hướng dẫn người dân tiếp cận và sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng (tiết kiệm, vay vốn, các kỹ năng về thanh toán) được công chúng đón nhận tích cực, tạo sự lan tỏa trong xã hội, giúp cộng đồng có hiểu biết tài chính tốt, góp phần hạn chế tín dụng đen.

Trong công tác an sinh xã hội, từ đầu năm đến nay, ngành ngân hàng đã dành hơn 5.000 tỷ đồng hỗ trợ triển khai các hoạt động an sinh xã hội trên toàn quốc. Riêng công tác phòng, chống Covid-19, ngành ngân hàng đã ủng hộ hơn 3.500 tỷ đồng với nhiều chương trình ý nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước như: ủng hộ Quỹ phòng chống vắc xin của Chính phủ hơn 700 tỷ đồng, ủng hộ 250 tỷ đồng cho chương trình “Sóng và máy tính cho em”…

dieu hanh chinh sach tien te linh hoat thich ung nhanh voi tinh hinh moi
Toàn cảnh họp báo

Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô để điều hành phù hợp

Về phương hướng, nhiệm vụ hoạt động ngân hàng năm 2022, đại diện NHNN cho biết, trên cơ sở mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2022, tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, NHNN tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, đồng bộ các công cụ CSTT, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị trường trong và ngoài nước.

Cụ thể, NHNN sẽ điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu CSTT; khuyến khích các TCTD tiếp tục tiết giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện giảm chi phí vốn cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế; điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT; góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh đó, điều hành các giải pháp tín dụng nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, kiểm soát và xử lý nợ xấu; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng và các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, thiên tai, dịch bệnh.

Ngoài ra, triển khai Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 sau khi được phê duyệt; thúc đẩy chuyển đổi số, đẩy mạnh TTKDTM trong hoạt động ngân hàng và đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Tập trung triển khai Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2021-2025; Chiến lược phát triển hệ thống thanh toán Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030…

Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2022 là 14%. Đây là con số đặt ra để định hướng điều hành còn việc triển khai, hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên hay các lĩnh vực khó khăn của nền kinh tế sẽ được điều hành cụ thể qua việc tăng trưởng hạn mức cho các NHTM hoặc qua các công cụ điều tiết gián tiếp. Quan tâm, quán xuyến nhiều hơn các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là các gói tín dụng chính sách. Không tăng vốn thậm chí giám sát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro như chứng khoán, bất động sản. Năm 2022, ngành Ngân hàng sẽ tập trung vào chuyển đổi số kể cả về con người, bộ máy, nguồn lực…

Tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cùng đại diện lãnh đạo một số vụ, cục của NHNN đã trả lời một số câu hỏi của báo chí liên quan đến điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng.

Hương Giang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400