Doanh nghiệp hồ hởi khi lãi suất giảm

10:00 | 07/10/2020

Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có các quyết định giảm các mức lãi suất điều hành kể từ ngày 1/10, các ngân hàng đồng loại giảm lãi suất cho vay tiền đồng ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên xuống còn 4,5%/năm. Thông tin đó được cộng đồng doanh nghiệp đón nhận hết sức hồ hởi.

doanh nghiep ho hoi khi lai suat giam Giảm lãi suất đang tác động lan tỏa
doanh nghiep ho hoi khi lai suat giam Giảm lãi suất được kỳ vọng sẽ hỗ trợ niềm tin kinh doanh
doanh nghiep ho hoi khi lai suat giam
Lãi suất cho vay giảm là động lực cho dòng vốn hỗ trợ thị trường cuối năm

Doanh nghiệp hồ hởi vì lãi suất giảm

Đại diện Hiệp hội Chế biến Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) cho biết, tổ chức này đã cập nhật thông tin thay đổi mức lãi suất vay ngắn hạn lên bản tin của hiệp hội và thông báo cho các DN hội viên để nắm được chính sách của ngành Ngân hàng và chủ động các phương án tài chính.

Theo ông Trương Đình Hòe - Tổng thư ký Vasep trong quý III vừa qua, ngành thủy sản có xu hướng phục hồi tích cực với mức tăng trưởng khoảng 5%. Hiện nay hầu hết các DN đều đang có nhu cầu vay vốn lãi suất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và tăng sản lượng chế biến. Bên cạnh đó, hiện nay Hiệp định EVFTA đã có hiệu lực vì thế nhu cầu về vốn ở một số DN có thể tăng đến 20% vì cần đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ để phục vụ chế biến sâu để xuất khẩu vào các thị trường khó tính.

Trên thực tế ngay từ đầu quý III, khi NHNN chưa giảm tiếp trần lãi suất cho vay ngắn hạn, một số NHTM đã chủ động thiết kế các gói vay lãi suất dưới 5%/năm đối với các kỳ ngắn hạn. Chẳng hạn, Agribank đã tung ra gói vay ưu đãi 5.000 tỷ đồng dành cho nhóm DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với mức lãi suất cho vay xuất khẩu chỉ 4,8%/năm. Trong khi đó, SHB cũng đã phối hợp với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF) triển khai cho vay gián tiếp đối với các DN nằm trong chuỗi giá trị liên kết xuất khẩu với mức lãi suất ngắn hạn chỉ 4,16%/năm và trung dài hạn là 6%/năm.

Đặc biệt, hiện các ngân hàng vẫn đang triển khai cho vay ngoại tệ (hoán đổi ra tiền VND) để thu mua nguyên liệu trong nước làm hàng xuất khẩu. Mức lãi suất vay USD ổn định ở mức khoảng 2,7-4%/năm đối với kỳ hạn dưới 6 tháng, thấp hơn khoảng 1-2%/năm so với vay trực tiếp bằng tiền VND nên vẫn được nhiều DN lựa chọn.

Ông Nguyễn Văn Quang - Giám đốc một DN gia công sản phẩm bàn ghế gỗ xuất khẩu tại Biên Hòa cho rằng, hiện DN này vẫn song song vay cả USD và VND. Nhưng nếu mức lãi suất vay VND được ngân hàng giảm xuống 4,5%/năm thì DN sẽ cân nhắc vay thêm bằng nội tệ vì độ chênh lệch không còn quá lớn, chưa kể rằng nếu vay bằng USD, DN phải chịu thêm một số chi phí phát sinh từ quá trình mua bán, hoán đổi và phải lường trước cả những rủi ro từ biến động tỷ giá.

Có thể giảm 10.700 tỷ đồng chi phí lãi vay

Theo phân tích của Công ty chứng khoán SSI, việc NHNN tiếp tục giảm thêm 0,5%/năm trần mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND là cơ sở để các NHTM giảm lãi suất cho vay các kỳ ngắn hạn trong quý IV/2020, đặc biệt là các khoản vay đối với 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên (bao gồm: nông nghiệp, xuất khẩu, DNNVV, DN công nghiệp phụ trợ và DN ứng dụng công nghệ cao).

Các chuyên gia tại SSI cho rằng, đến thời điểm cuối tháng 6/2020 tỷ lệ cho vay ngắn hạn/tổng dư nợ trung bình của các NHTM trong hệ thống ở mức khoảng 50%. Nếu ước tính tỷ lệ cho vay ngắn hạn với 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên hiện nay chiếm khoảng 20-25% tổng dư nợ của toàn hệ thống (tương đương khoảng 1,7-2,1 triệu tỷ đồng) thì với việc NHNN giảm trần lãi suất cho vay ngắn hạn thêm 0,5%/năm, cộng với việc các NHTM tập trung mạnh tăng trưởng vào nhóm DN xuất khẩu, DNNVV nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu thì sẽ có khoảng từ 8.500 đến 10.700 tỷ đồng chi phí lãi vay được tiết giảm trong các tháng tới. Đó là một khoản hỗ trợ đáng kể tác động đến lợi nhuận các tháng cuối năm của cộng đồng DN.

Trong khi đó, ở góc độ vĩ mô SSI đánh giá rằng, tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM trong các tháng còn lại của năm 2020 sẽ vẫn tiếp tục nằm ở xuất khẩu, bán buôn bán lẻ và xây dựng. Trong 9 tháng đầu năm vừa qua mặc dù tăng trưởng tín dụng chỉ tăng 6,09% nhưng các nhóm ngành ưu tiên đã có mức tăng trưởng khá, lần lượt: xuất khẩu (7%), nông nghiệp nông thôn (5%), DNNVV (5,5%). Vì vậy, trong cả năm 2020 tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống có thể đạt 8-10%, tương đương trong quý IV này sẽ có khoảng 150.000 - 320.000 tỷ đồng được cho vay ra để hỗ trợ phục hồi nền kinh tế.

Thạch Bình 

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.960 23.170 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.980 23.180 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.970 23.180 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.973 23.185 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.969 23.169 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.980 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.000 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.460
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.460
55.830
Vàng SJC 5c
55.460
55.830
Vàng nhẫn 9999
52.730
53.330
Vàng nữ trang 9999
52.330
53.030