ECB có thể tăng lãi suất lớn bất thường

08:18 | 29/08/2022

Các nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã đưa ra trường hợp tăng lãi suất lớn vào thứ Bảy vào tháng tới vì lạm phát vẫn ở mức cao một cách khó chịu và công chúng có thể mất niềm tin vào các thông tin chống lạm phát của ngân hàng.

Mặc dù ECB đã gây bất ngờ cho thị trường với việc tăng lãi suất tới 50 điểm vào tháng trước - mạnh gấp đôi dự kiến ban đầu, tuy nhiên các phát biểu mạnh mẽ của nhiều quan chức vào cuối tuần trước cho thấy, cơ quan này có thể tiếp tục tăng lãi suất với biên độ tương tự, thậm chí còn lớn hơn tại cuộc họp chính sách diễn ra 8/9 tới, một phần là do lạm phát đang tăng cao, một phần là do Fed cũng đang có những bước đi mạnh mẽ.

ecb co the tang lai suat lon bat thuong
Ảnh minh họa

Phát biểu tại Hội nghị thường niên của Fed tại Jackson Hole, Wyoming, cả thành viên hội đồng quản trị ECB Isabel Schnabel, Thống đốc NHTW Pháp Francois Villeroy de Galhau và Thống đốc NHTW Latvia Martins Kazaks đều cho rằng, cần hành động mạnh mẽ và nhanh chóng để kiềm chế lạm phát.

Theo đó, cảnh báo nguy cơ việc lạm phát cao hiện tại có thể trở nên cố thủ trong kỳ vọng lạm phát, bà Isabel Schnabel cho rằng: "Trong môi trường này, các NHTW cần phải hành động một cách mạnh mẽ".

Trong khi Thống đốc NHTW Latvia Martins Kazaks nói với Reuters: "Việc tăng lãi suất vượt biên là một lựa chọn chính sách hợp lý". "Chúng ta nên cởi mở để thảo luận cả mức 50 và 75 điểm cơ bản là các động thái có thể. Từ quan điểm hiện tại, ít nhất nó phải là 50".

Với mức lãi suất bằng 0, hiện ECB vẫn đang trong trạng thái kích thích nền kinh tế và vẫn còn cách khá xa so với mức lãi suất trung hòa, được các nhà kinh tế ước tính là khoảng 1,5%. Theo Kazaks, ECB nên đạt được mức lãi suất trung hòa trong quý đầu tiên của năm tới. Thậm chí Thống đốc NHTW Pháp Francois Villeroy de Galhau cho rằng cần đạt điều đó vào cuối năm nay. “Theo quan điểm của tôi, chúng ta có thể có mặt ở đó trước cuối năm nay, sau một bước tiến quan trọng nữa vào tháng 9”, Villeroy nói.

Theo các nhà phân tích, việc tăng lãi suất diễn ra ngay cả khi sự tăng trưởng của khu vực đồng euro đang chậm lại và có nguy cơ suy thoái ngày càng lớn. Nhưng suy thoái chủ yếu sẽ là do chi phí năng lượng tăng cao, khiến chính sách tiền tệ bất lực. Nhiều ý kiến cho rằng suy thoái cũng không giúp được nhiều trong việc đưa lạm phát trở lại mục tiêu nếu không cần thắt chặt chính sách.

Đáng chú ý nguy cơ suy thoái sắp xảy ra còn là một lý do cần phải sớm tăng lãi suất vì việc thắt chặt chính sách trở nên khó khăn khi sự chậm lại đã lộ rõ. “Với mức lạm phát cao này, việc tránh suy thoái sẽ rất khó khăn, rủi ro là rất lớn và rất có thể xảy ra suy thoái kỹ thuật”, Kazaks nói.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450