Giảm gánh nặng tín dụng cho hệ thống ngân hàng

12:51 | 23/09/2022

TS. Vũ Tiến Lộc - nguyên Chủ tịch VCCI cho rằng, các doanh nghiệp cũng cần phải thay đổi, không nên chỉ trông chờ vào vốn ngân hàng mà phải chủ động đa dạng kênh huy động vốn. Để giải “cơn khát” vốn, doanh nghiệp cần tìm đến các kênh khác như huy động trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu...

giam ganh nang tin dung cho he thong ngan hang Công tác điều hành tín dụng của NHNN là phù hợp và nhất quán

Không thể tăng cung tín dụng mãi

Tính đến cuối tháng 8/2022, tín dụng toàn Ngành đã tăng gần 10% so với đầu năm. NHNN đã nới hạn mức tín dụng cho 18 NHTM vào đầu tháng 9/2022. Tuy nhiên NHNN vẫn kiên định với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% trong năm nay trong bối cảnh áp lực lạm phát đang tăng cao. Với mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô hiện nay của cơ quan điều hành, VNDirect nhận thấy sẽ ít có khả năng các NHTM được nhận thêm hạn mức tín dụng từ giờ cho đến hết năm, mặc dù theo yếu tố mùa vụ, nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm của doanh nghiệp và người dân sẽ tăng cao. Do đó từ nay đến cuối năm, chắc chắn các ngân hàng phải phân bổ tín dụng hợp lý, chọn lọc khách hàng, dự án.

Nhìn từ thực tế, Tổng giám đốc MB Lưu Trung Thái thừa nhận, nhu cầu vốn của nền kinh tế hiện nay là rất lớn. Bản thân ngân hàng cũng muốn tăng trưởng tín dụng nhưng nếu xét trên mục tiêu tổng thể vừa kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thì tín dụng ngân hàng không thể tăng mạnh hơn trong năm nay. Để có thể đáp ứng được đủ vốn cho nền kinh tế không thể dồn hết vào hệ thống ngân hàng mà cần phải phát triển qua nhiều kênh khác.

giam ganh nang tin dung cho he thong ngan hang
Hiện gánh nặng lo vốn cho nền kinh tế vẫn đang dồn vào hệ thống ngân hàng

Đồng quan điểm, PGS-TS. Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng vốn đầu tư cho doanh nghiệp, nền kinh tế, không hẳn chỉ là câu chuyện của ngân hàng mà do vốn đầu tư công giải ngân chậm, thậm chí có nơi tắc nên áp lực vốn đổ lên khu vực vốn tín dụng và trái phiếu, cổ phiếu. Bên cạnh đó, việc cho vay hay không, các ngân hàng phải căn cứ vào năng lực tài chính, nợ xấu. “Ngân hàng phải xem xét các khả năng rủi ro trước khi giải ngân cho vay. Doanh nghiệp cũng cần phải hiểu tình thế như vậy. Thời gian tới, cần thay đổi cấu trúc thị trường tiền tệ, thị trường vốn để đảm bảo cấu trúc này bớt rủi ro nhất”, TS. Thiên nêu quan điểm.

Trong khi đó, không chỉ các tổ chức trong nước, các tổ chức quốc tế đều đưa ra cảnh báo tăng trưởng tín dụng Việt Nam đang ở mức khá cao. Đặc biệt trong bối cảnh hiện tại, NHNN cần tiếp tục theo dõi sát tình hình biến động của nền kinh tế thế giới và thị trường tài chính - tiền tệ, chủ động thực hiện điều hành linh hoạt lãi suất, công cụ thị trường mở, tích cực quản lý và điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, từng bước ổn định và nâng cao giá trị đồng Việt Nam, góp phần kìm giữ lạm phát cơ bản để làm cơ sở cho việc kìm giữ chỉ số giá tiêu dùng bình quân.

Phải đa dạng kênh huy động vốn

Đứng trước sức ép lên lạm phát ngày càng lớn, NHNN không thể nới room nhiều, do vậy, TS. Vũ Tiến Lộc - nguyên Chủ tịch VCCI cho rằng, các doanh nghiệp cũng cần phải thay đổi, không nên chỉ trông chờ vào vốn ngân hàng mà phải chủ động đa dạng kênh huy động vốn. Để giải “cơn khát” vốn, doanh nghiệp cần tìm đến các kênh khác như huy động trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu. Đồng quan điểm, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, tăng trưởng kinh tế cần nhiều nguồn vốn khác nhau, không chỉ dựa vốn ngân hàng. Trong bối cảnh tín dụng eo hẹp, các kênh dẫn vốn khác cho nền kinh tế cần được đẩy mạnh hơn như cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư công, nguồn vốn đầu tư nước ngoài...

Một tin vui đối với thị trường vốn, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 65/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 153 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Sự phát triển của thị trường này, được đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giảm bớt gánh nặng tín dụng cho hệ thống ngân hàng.

Theo FiinGroup, Nghị định 65 sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro mất cân đối nguồn vốn hệ thống ngân hàng. Bởi đến hết tháng 6/2022, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành đạt gần 1,5 triệu tỷ đồng và mới chỉ tương đương 1/3 tổng dư nợ tín dụng vay trung, dài hạn của hệ thống ngân hàng. “Chúng tôi tin rằng, Nghị định 65 tạo hành lang pháp lý và chế tài rõ ràng sẽ khuyến khích thêm nhiều doanh nghiệp tiếp cận kênh trái phiếu, từ đó giảm tải gánh nặng đối với nguồn tín dụng hiện nay. Chúng tôi cũng kỳ vọng các ảnh hưởng tích cực của Nghị định 65 sẽ giúp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp thành kênh huy động vốn trung và dài hạn chính, trả lại chức năng thực cho kênh tín dụng ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn”, báo cáo của FiinGroup nhận định.

Phó Tổng giám đốc VIB Lê Quang Trung thừa nhận, Nghị định 65 gỡ nhiều vấn đề cho thị trường vốn, trong đó giảm gánh nặng vốn trung, dài hạn cho ngân hàng. “Nếu không phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, toàn bộ nguồn vốn trung dài hạn lại tiếp tục chuyển qua ngân hàng thì ngân hàng không thể gánh nổi. Hiện tỷ lệ huy động vốn ngắn cho vay trung dài của các NHTM đều ngấp nghé quy định của NHNN”, ông Trung chia sẻ thêm.

TS. Trần Du Lịch – Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, đến thời điểm này, cần phải giảm gánh nặng cung ứng vốn, nhất là vốn trung, dài hạn cho hệ thống ngân hàng. Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp là giải pháp cung ứng vốn dài hạn quan trọng cho doanh nghiệp.

Những quy định tại Nghị định 65, theo đánh giá của giới chuyên môn được kỳ vọng sẽ tạo ra hành lang pháp lý phù hợp, đảm bảo tính công khai, minh bạch khơi thông lại “huyết mạch” của thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau những bất ổn thời gian qua, tạo động lực cho thị trường này phát triển bền vững, lành mạnh. “Chỉ khi có hành lang pháp lý, chế tài vững chắc, thông tin được minh bạch, niềm tin sẽ trở lại với nhà đầu tư; song song với đó phải có hệ thống tư vấn, quản lý quỹ chuyên nghiệp tham gia, thị trường mới có thể phát triển bền vững”, một chuyên gia ngân hàng nhấn mạnh.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950