Gom lực đẩy cho chứng khoán cuối năm

08:27 | 29/08/2022

Các chuyên gia nhận định rủi ro trên thị trường chứng khoán thời gian tới chủ yếu đến từ các yếu tố bất định quốc tế, như Fed tăng lãi suất để chống lạm phát, bong bóng bất động sản Trung Quốc và các vấn đề địa chính trị…

Kiểm soát tốt lạm phát, chứng khoán sẽ phục hồi

CTCP Chứng khoán An Bình (ABS) cho biết, nỗi lo lớn nhất vẫn là Fed giữ nguyên lộ trình tăng lãi suất với cường độ mạnh trong bối cảnh lạm phát tại Mỹ vẫn còn cao. Từ đầu năm tới nay, cơ quan này đã nâng lãi suất tổng cộng bốn lần, trong đó có hai lần tăng ở mức 0,75%, dự báo có thể sẽ tiếp tục tăng lãi suất với cường độ lớn vào tháng 9. Khi đó, thị trường sẽ đối mặt với rủi ro lớn về việc nguồn tiền rút ra và dòng tiền vốn đã đi qua thời kỳ rẻ.

Đánh giá về các rủi ro lạm phát Mỹ, Fed tăng lãi suất, SSI cũng cho rằng những tác động này có thể dẫn đến khả năng như kim ngạch xuất khẩu giảm sút, từ đó gây áp lực lên VND và nhu cầu trong nước yếu đi do lạm phát cao. Dự báo diễn biến vĩ mô các năm 2023-2024 có thể khó khăn hơn.

Theo SSI, trong nửa đầu năm 2023, nhiều khả năng chỉ số CPI sẽ bật tăng cao vượt mức 4%, trong khi đó tăng trưởng kinh tế sẽ bắt đầu chậm dần. Áp lực tăng giá đối với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ vốn thuộc nhóm nhà nước quản lý về giá như: điện, nước, giáo dục, y tế… khó tránh khỏi. Do đó, ưu tiên hàng đầu của Chính phủ lúc này là kiểm soát lạm phát, sau đó là tăng trưởng khi rủi ro lạm phát giảm dần.

gom luc day cho chung khoan cuoi nam

Một chuyên gia của Ủy ban Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ quốc gia cũng cho rằng xu hướng của thị trường chứng khoán các tháng cuối năm nay có liên quan chặt chẽ với các diễn biến của thế giới, kéo theo đó là cơ quan điều hành trong nước. Vì vậy, khi nào xu hướng lạm phát trên thế giới hạ nhiệt, đồng thời giá cả hàng hoá trong nước xác nhận một xu hướng giảm rõ rệt, khi đó dòng tiền trên thị trường mới quay lại xu hướng tăng trưởng ổn định, rõ nét. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều doanh nghiệp, ngành hàng vẫn khẳng định giá cả hàng hoá khó có thể giảm ngay.

Nhà đầu tư cần điều chỉnh lại mục tiêu lợi nhuận

Thị trường chứng khoán được kỳ vọng sẽ duy trì tăng trưởng nhờ sự hỗ trợ của các yếu tố nội tại. Theo Công ty Chứng khoán BSC, nền kinh tế tiếp tục phát triển cùng nỗ lực của Chính phủ trong việc triển khai các giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng, khẩn trương thực hiện nhanh, hiệu quả Chương trình phục hồi phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời Chính phủ tiếp tục điều hành linh hoạt, ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu.

Bên cạnh đó, nền tảng cơ bản tốt của các doanh nghiệp cũng là yếu tố hỗ trợ cho thị trường phát triển. Theo số liệu thống kê của VNDirect, lãi ròng quý II/2022 của các công ty niêm yết trên ba sàn HoSE, HNX, UPCoM ước tính tăng trưởng ở mức 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái, lũy kế 6 tháng năm 2022 lợi nhuận toàn thị trường tăng trưởng 24,2% so với cùng kỳ.

Việc lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết tăng trưởng, P/E forward thị trường xuống khoảng 9 lần - gần chạm đáy lịch sử, được đánh giá là hấp dẫn để đầu tư dài hạn. Song, VCSC cho rằng, P/E thị trường ở con số 12,9 lần (tháng 7/2022) - mức hấp dẫn so với JCI của Indonesia là 15 lần, SET của Thái Lan là 17 lần và PCOMP của Philippines là 18,2 lần.

Ông Trần Lê Minh - Giám đốc chi nhánh Hà Nội của Công ty Quản lý Quỹ Dragon Capital cho rằng, hiện tại là thời điểm để nhà đầu tư điều chỉnh kỳ vọng lợi nhuận. Thị trường Việt Nam lâu nay vẫn được đánh giá là có triển vọng trong dài hạn hơn là nơi để lướt sóng đầu cơ. Vì vậy, mục tiêu lợi nhuận mà nhà đầu tư đặt ra để tham thiếu không nên là con số của năm 2020-2021 vì đó là những năm biến động lớn. Thay vào đó, cần lấy con số bình quân 10 năm qua, lợi nhuận của toàn thị trường được thể hiện qua chỉ số VN-Index khoảng 12-14%/năm.

“Đây là lúc chúng ta kỳ vọng đầu tư thu lợi được khoảng 14% một năm đã là rất tốt”, ông Minh khuyến nghị.

Một yếu tố đáng chú ý nữa là hệ thống giao dịch mới chuẩn bị triển khai cũng là xung lực tốt cho thị trường. Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi mới đây cho biết hệ thống giao dịch KRX đang được cấp tốc triển khai và thời hạn vận hành chính thức chỉ còn tính bằng tháng.

"Vấn đề hệ thống công nghệ cho thị trường phải đảm bảo tính liên tục, cập nhật, hiện đại. Do đó, Bộ Tài chính cũng đang nghiên cứu, đề xuất để xây dựng thêm các dự án công nghệ khác, đáp ứng được nhu cầu phát triển lâu dài của thị trường trong tương lai", ông Chi nói.

Huy Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450