Hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính cao, kiên nhẫn và chờ đợi cổ phiếu nhiều triển vọng

17:19 | 23/08/2022

Theo các chuyên gia đánh giá, sau nhiều lần kiểm tra ở vùng đáy, đến nay thị trường đã thực sự bước vào giai đoạn phục hồi, có thể đan xen những nhịp điều chỉnh nhưng sẽ không giảm mạnh như trước đây. Các nhóm ngành dẫn dắt thị trường đã bị giảm mạnh thời gian qua cũng đang có xu hướng tăng trưởng trở lại. Cùng nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi tốt, thị trường chứng khoán sẽ tích cực hơn, nhờ vậy nhiều nhóm ngành dẫn dắt cũng sẽ có sự phục hồi tốt.

Thị trường hồi phục

Theo ông Hoàng Công Tuấn, Kinh tế trưởng, Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng TMCP Quân đội (MBS), nhìn chung nền kinh tế có sự tăng trưởng rất ấn tượng, 6 tháng đầu năm tăng trưởng 6,42% và trong năm nay nhiều định chế tài chính cũng dự kiến kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng thậm chí còn ở mức trên 7%.

Việt Nam có một lợi thế là trong những năm 2020 và 2021, Ngân hàng Nhà nước đã rất sáng suốt khi không bung mở tín dụng và hạ lãi suất quá nhiều. Điều đó khiến áp lực lạm phát của Việt Nam về phương diện tiền tệ không mạnh mẽ như một số các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Chính vì lợi thế đó, hiện tại Ngân hàng Nhà nước cũng không có quá nhiều áp lực trong việc phải tăng các mức lãi suất điều hành.

han che su dung don bay tai chinh cao kien nhan va cho doi co phieu nhieu trien vong

Do đó, kinh tế Việt Nam có sự phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch Covid-19, môi trường vĩ mô vẫn tương đối ổn định và thuận lợi, phần thưởng sẽ đến cho những nhà đầu tư có góc nhìn phân tích sâu sắc cũng như có sự quyết đoán trong thời điểm vừa qua.

Thị trường chứng khoán Việt Nam sau khi tạo đáy ở vùng chỉ số VN-Index khoảng 1.147 điểm cũng đã có một nhịp phục hồi khá mạnh trong một vài tuần qua và mức phục hồi trên 100 điểm.

Gần như thị trường phục hồi toàn diện chứ cũng không phải một nhóm ngành cụ thể, nhưng những nhóm ngành tăng mạnh nhất vừa rồi là ngân hàng và chứng khoán. Đối với nhóm cổ phiếu chứng khoán, kết quả kinh doanh quý II kém ấn tượng hơn đáng kể so với quý I, nhưng đó là thời điểm đáy của thị trường kể cả về mặt điểm số và thanh khoản.

Tuy nhiên, với sự tăng trưởng ấn tượng của thị trường trong hơn một tháng qua, thêm vào đó là việc phục hồi về thanh khoản, kết quả kinh doanh quý III của các công ty chứng khoán chắc chắn sẽ có cải thiện đáng kể.

“Về nhóm ngân hàng, nhiều người lo ngại việc Ngân hàng Nhà nước sẽ siết tăng trưởng tín dụng, nhưng không phải Ngân hàng Nhà nước siết tín dụng mà là hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng ở một số phân khúc để nắn luồng tín dụng vào những hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững hơn.

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể sẽ tiếp tục nới room tín dụng cho một số ngân hàng, có thể vào đầu quý III hoặc cuối quý III. Mức tăng trưởng đó tôi cho rằng hoàn toàn đảm bảo về tăng trưởng lợi nhuận cho các nhóm ngân hàng”, ông Tuấn nhận định trong Talk show Phố Tài chính trên VTV8.

Ông Trương Quang Bình, Phó Giám đốc Nghiên cứu Khối Khách hàng tổ chức, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam thì cho rằng, trong cuộc họp Fed đã đưa ra thông điệp tiếp tục lộ trình tăng lãi suất cho đến khi lạm phát được kiểm soát nhưng tốc độ sẽ chậm lại.

Hiện tại, Việt Nam kiểm soát lạm phát tương đối tốt, dự báo GDP quý III/2022 sẽ tăng trưởng trên 10% và GDP cả năm 2022 sẽ tăng trưởng khoảng trên 7%. Những nhóm ngành như chứng khoán, ngân hàng và bất động sản khu công nghiệp là những nhóm ngành đã hồi phục mạnh vừa qua.

Nhóm ngành chứng khoán có một chất xúc tác đó là việc rút ngắn chu kỳ thanh toán xuống còn T+2 vào cuối tháng 8 sẽ làm tăng thanh khoản. Đối với nhóm ngành ngân hàng, do định giá đã đi vào vùng hấp dẫn, kết quả kinh doanh quý II rất lạc quan khi mà 27 ngân hàng niêm yết đã công bố kết quả lợi nhuận sau thuế tăng trưởng 37% so với cùng kỳ.

Trong thời gian tới, việc Ngân hàng Nhà nước có thể nới “room”, vào khoảng giữa tháng 9, là một yếu tố hỗ trợ rất tốt. Ngoài ra, nhóm bất động sản khu công nghiệp cũng tăng mạnh. Do sự kỳ vọng vào việc hồi phục đầu tư vào Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài, tính đến cuối tháng 7 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã tăng trưởng khoảng 10% so với cùng kỳ.

Kiên nhẫn và chờ đợi mua cổ phiếu nhiều triển vọng

Ông Hoàng Công Tuấn cho biết, trong những thời điểm bi quan nhất của thị trường khi ở ngưỡng 1.150 điểm, rất nhiều nhà đầu tư hỏi ý kiến của tôi về việc nên làm gì. Các nhà đầu tư nên hiểu rằng thị trường chứng khoán sẽ đi vào giai đoạn đi lên nhưng chậm chạp và xen lẫn đó là những nhịp điều chỉnh.

Các nhà đầu tư nên dũng cảm, kiên nhẫn và chờ đợi để mua các cổ phiếu mà mình đánh giá cao về triển vọng kinh doanh, cũng đừng nên mua vào những thời điểm mà thị trường sôi động quá bởi thị trường sẽ không lên nhanh, lên mạnh như năm 2021 và 2020.

Về tổng thể năm 2022 sẽ hết sức phân hóa, kể cả trong một nhóm ngành. Ví dụ nhóm cổ phiếu chứng khoán, nhà đầu tư nên tập trung vào những công ty hàng đầu và có hoạt động dịch vụ cũng như tệp khách hàng tăng trưởng mạnh, nên tránh những công ty sử dụng quá nhiều hoạt động tự doanh. Bởi với thị trường chứng khoán diễn biến chậm như hiện nay thì rõ ràng hoạt động kinh doanh rất khó để kiếm được lợi nhuận và nếu không cẩn thận có thể bị lỗ.

Đối với nhóm ngân hàng, nhà đầu tư nên chọn những ngân hàng lành mạnh, có tệp khách hàng mở rộng, có tiền gửi không kỳ hạn tốt, có khả năng giữ được biên lợi nhuận trong bối cảnh lãi suất tăng lên và đặc biệt là sẽ được Ngân hàng Nhà nước ưu ái, hỗ trợ để nới cho tăng trưởng tín dụng. Những ngân hàng như vậy sẽ được chọn lọc để gia tăng tăng trưởng tín dụng thời gian tới và giá cổ phiếu các ngân hàng đó sẽ có xu hướng gia tăng.

Ông Trương Quang Bình thì cho rằng, các nhà đầu tư ở giai đoạn hiện tại nên hạn chế việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá cao. Thứ hai, nhà đầu tư có thể bắt đầu tích lũy tài sản chất lượng cao cho mục tiêu dài hạn hơn, sẽ đem lại tỷ suất sinh lợi tốt hơn thay vì cố gắng dự đoán các xu hướng ngắn hạn.

Về cơ bản, định giá của thị trường đang rất hấp dẫn với mức P/E dự phóng 2022 là 12 lần. Trong khi tăng trưởng lợi nhuận trên một cổ phiếu được dự báo tăng trưởng ở mức 25%, vậy thì hệ số P/E trên mức tăng trưởng chỉ ở mức 0,5 lần, đây là mức định giá có thể nói là thấp kỷ lục trong một thập kỷ qua.

“Chúng ta nên lựa những doanh nghiệp có mô hình kinh doanh tốt, có lợi thế cạnh tranh hoặc chi phí thấp, có sản phẩm có lợi thế, có tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn, có sự đầu tư vào năng lực sản xuất và có mức định giá thấp, cụ thể là có P/E khoảng trên dưới 10 và tăng trưởng ở mức khoảng 15-20%. Chúng ta có thể giải ngân vào những mã cổ phiếu này trong những lĩnh vực mà chúng ta đã trao đổi”, ông Bình khuyến nghị.

Hương Ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450