Hoạt động ngân hàng dự báo tiếp tục khả quan trong năm 2020, bất chấp tác động của dịch do virus Corona

07:00 | 05/02/2020

Mặc dù dịch bệnh do virus Corona đang gây ra những lo ngại về tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, ngành Ngân hàng vẫn tiếp tục được đánh giá có triển vọng khả quan trong năm 2020, báo cáo triển vọng ngành mới đây của Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cho biết.

ngan hang tiep tuc kha quan trong nam 2020 mac cho virus corona van dang hoanh hanh Ngành Ngân hàng triển khai phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona gây ra
ngan hang tiep tuc kha quan trong nam 2020 mac cho virus corona van dang hoanh hanh Dấu ấn ngân hàng trong chính sách tiền tệ năm 2019

Thông tin đáng chú ý trong báo cáo cho biết, ngành Ngân hàng tiếp tục là sự lựa chọn yêu thích số 1 trong hoạt động đầu tư của BSC với nhận định đây là những doanh nghiệp được dự báo tiếp tục duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận khả quan và đang có định giá tương đối thấp.

Phân tích chi tiết của BSC cho biết, trong năm 2020, ngành Ngân hàng được hỗ trợ bởi 5 yếu tố thuận lợi trong hoạt động kinh doanh.

Thứ nhất, đối với nhân tố vĩ mô, BSC cho rằng, trong năm 2020, Việt Nam tiếp tục giữ vững nền kinh tế ổn định nhằm hỗ trợ phát triển ngành ngân hàng. Theo đó, kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ giảm tốc độ tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên vẫn sẽ giữ ở mức cao so với khu vực và thế giới.

Tăng trưởng GDP sẽ ở mức 6,5% - 6,6% với đóng góp chính từ tiêu dùng cá nhân và đóng góp từ doanh nghiệp khối FDI.  

Thanh khoản hệ thống được dự báo ở mức ổn định nhờ 2 yếu tố là xuất khẩu vẫn tăng trưởng tốt và thặng dư ngân sách nhà nước, dự trữ ngoại hối ở mức cao giúp đảm bảo thanh khoản.

Về tăng trưởng tín dụng, BSC dự báo trong năm 2020 tăng trưởng chỉ ở mức 12,5%, chậm hơn mức ước tính 13% trong năm 2019.

ngan hang tiep tuc kha quan trong nam 2020 mac cho virus corona van dang hoanh hanh
Dự phòng tăng trưởng tín dụng và huy động trong năm 2020 - Nguồn: BSC Research

Dự báo này dựa trên các yếu tố như nền kinh tế giảm tốc, GDP tăng trưởng chậm lại, nhu cầu vay vốn dài hạn để sản xuất kinh doanh chậm lại hay việc các ngân hàng thiếu vốn sẽ bị hạn chế cấp tín dụng (CTG, Agribank…)

Thứ hai, NIM toàn Ngành trong 2020 được dự báo cải thiện theo hướng tăng nhẹ nhờ lãi suất cho vay và huy động tiếp tục giảm nhẹ, nhằm hỗ trợ tăng trưởng chung cho toàn thị trường.

ngan hang tiep tuc kha quan trong nam 2020 mac cho virus corona van dang hoanh hanh

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng tiếp tục chuyển sang chiến lược cơ cấu lại các khoản vay từ doanh nghiệp lớn sang doanh nghiệp nhỏ và vừa, đẩy mạnh cho vay cá nhân giúp cải thiện NIM.

Ngoài ra, với việc nới trần tỷ lệ LDR cũng sẽ giúp ngân hàng giảm bớt áp lực huy động trong hệ thống, gián tiếp cắt giảm chi phí vốn.

Đặc biệt, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, theo BSC, sẽ hạ nhiệt sau khi các ngân hàng huy động đủ nguồn bù đắp phần thiếu hụt do việc rút tiền từ Kho bạc Nhà nước trong tháng 11/2019 và sẽ giữ ở mức thấp nhờ dự báo thanh khoản ổn định.

BSC ước tính NIM toàn ngành sẽ tăng trưởng nhẹ lên mức 3,64%/năm cho các doanh nghiệp niêm yết.

Thứ ba, trong năm 2020, tăng vốn điều lệ nhằm đáp ứng yêu cầu vốn theo tiêu chuẩn Basel 2 vẫn sẽ tiếp tục được coi là mục tiêu trọng tâm của nhiều ngân hàng. Việc hoàn thiện quá trình tăng vốn điều lệ đồng nghĩa với việc các ngân hàng có thể mở rộng dư nợ tín dụng với nền kinh tế, cải thiện hoạt động kinh doanh.

ngan hang tiep tuc kha quan trong nam 2020 mac cho virus corona van dang hoanh hanh

Theo ước tính của BSC, CAR Basel II của các ngân hàng niêm yết đang ở mức trung bình 11,4% trong năm 2019 và sẽ có khả năng tăng lên 12,1% trong năm 2020.

Thứ tư, áp lực từ việc trích lập dự phòng sẽ được giảm bớt nhờ việc cải thiện chất lượng tài sản ở các ngân hàng.

Từ nhiều năm qua, trích lập dự phòng luôn “ăn mòn” một phần đáng kể lợi nhuận của các ngân hàng. Tuy nhiên, trong năm 2020, BSC đánh giá chất lượng tài sản của các ngân hàng sẽ được cải thiện nhờ tăng trưởng tín dụng được cấp ở mức thấp giúp các ngân hàng chọn lọc các khoản vay an toàn.

Ngoài ra, việc các ngân hàng tăng cường kiểm soát, hạn chế cho vay vào các ngành nghề rủi ro như bất động sản, các ngành sản xuất làm ăn thua lỗ, quyết liệt xử lý nợ xấu dứt điểm, đảm bảo an toàn cho hệ thống cũng góp phần củng cố và gia tăng chất lượng tài sản ngân hàng.

Đáng chú ý, BSC cho biết, đa phần các ngân hàng niêm yết đã áp dụng thành công Basel II giúp các ngân hàng hướng đến hoạt động ổn định và rủi ro thấp, nâng cao năng lực về vốn cho ngân hàng. Nhiều ngân hàng hiện cũng đã xử lý xong nợ tại VAMC.

“Việc cải thiện chất lượng tài sản sẽ giúp giảm áp lực trích lập dự phòng và tăng tỷ trọng lợi nhuận trước thuế trong tổng thu nhập hoạt động (TOI) trong năm 2020 của các ngân hàng”, BSC đánh giá.

Cuối cùng, BSC cho biết, một số ngân hàng dự kiến sẽ niêm yết trong thời gian tới bao gồm: OCB (vốn điều lệ 4,000 tỷ đồng), Maritimebank (vốn điều lệ 11,750 tỷ đồng), SeaBank (vốn điều lệ 5,466 tỷ đồng), ABBbank (vốn điều lệ 5,319 tỷ đồng), Saigonbank (vốn điều lệ 3,080 tỷ đồng), Nam Á Bank (vốn điều lệ 3,021 tỷ đồng), Việt Á Bank (vốn điều lệ 3,500 tỷ đồng), Agribank (vốn điều lệ 30,473 tỷ VND).

Việc niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ giúp nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn hơn khi đầu tư vào nhóm ngành ngân hàng cũng như tăng tỷ trọng toàn ngành trong VN-Index (hiện đang ở mức khoảng 30%).

Mặc dù vậy, BSC cũng lưu ý, tiến độ niêm yết sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng các ngân hàng này giải quyết các khoản nợ xấu còn tồn đọng và hoàn thành các thủ tục để áp dụng Basel II.

Thanh Tùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.577 25.700 29.749 30.378 204,34 213,67
BIDV 23.165 23.305 24.914 25.673 29.860 30.471 205,33 212,97
VietinBank 23.167 23.317 24.868 25.703 29.822 30.462 208,25 214,25
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.873 25.239 29.954 30.394 209,62 212,70
ACB 23.170 23.300 24.902 25.255 30.044 30.394 209,53 212,51
Sacombank 23.139 23.301 24.905 25.360 30.004 30.411 209,01 213,57
Techcombank 23.150 23.310 24.642 25.604 29.613 30.562 207,89 214,68
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.290 24.900 25.230 29.950 29.950 206,10 211,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.650
45.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.650
45.500
Vàng SJC 5c
44.650
44.520
Vàng nhẫn 9999
44.650
45.150
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.000