IFC tài trợ 3,8 tỷ USD ứng phó COVID-19 và biến đổi khí hậu ở Đông Á và Thái Bình Dương

16:08 | 17/08/2021

Bất chấp những thách thức chưa từng có của đại dịch trên toàn cầu, năm tài chính 2021 chứng kiến mức ​​cam kết kỷ lục 3,8 tỷ USD của IFC tại khu vực này.

Với mục tiêu tăng cường năng lực chống chịu của người dân, doanh nghiệp, và quốc gia, IFC đã đẩy mạnh đáng kể những nỗ lực ứng phó nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng kép về biến đổi khí hậu và COVID-19 ở Đông Á và Thái Bình Dương trong năm tài chính vừa qua.

Mức 3,8 tỷ USD trên bao gồm 2,8 tỷ USD tài trợ dài hạn từ nguồn vốn của IFC và 956 triệu USD huy động từ các nhà đầu tư bên ngoài. Ngoài ra, IFC đã tài trợ ngắn hạn lên tới 1,5 tỷ USD tại khu vực này để thúc đẩy dòng chảy thương mại.

ifc tai tro 38 ty usd ung pho covid 19 va bien doi khi hau o dong a va thai binh duong

IFC đã cam kết 1,9 tỷ USD cho các nỗ lực ứng phó với COVID-19 kể từ thời điểm đại dịch bắt đầu bùng nổ ở Đông Á - Thái Bình Dương. Giao dịch đầu tiên trong khuôn khổ Nền tảng Y tế Toàn cầu trị giá 4 tỷ USD của IFC được thực hiện tại khu vực để giải quyết tình trạng thiếu nguồn cung trang thiết bị y tế trầm trọng ở các nước đang phát triển. IFC cũng cam kết 3 tỷ USD để giúp các định chế tài chính trong khu vực tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME).

Bên cạnh đó, 26% số dự án - giá trị lên tới 744 triệu USD là tài trợ dài hạn, hướng đến việc giải quyết cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu và rác thải nhựa đại dương. Trong khi Đông Á - Thái Bình Dương đóng góp 30% GDP toàn cầu và chiếm 30% dân số thế giới, khu vực này phát thải 60% lượng khí nhà kính trên toàn cầu và có nhiều nguồn phát thải rác thải nhựa đại dương lớn nhất.

Cùng với việc công bố kết quả hoạt động năm tài chính, IFC cũng công bố việc bổ nhiệm bà Kim-See Lim làm Giám đốc mới của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Là công dân Malaysia, bà Lim sẽ lãnh đạo các hoạt động tư vấn và đầu tư trên 18 quốc gia và giám sát chiến lược của IFC trong khu vực.

“Trước tác động tàn phá của đại dịch COVID-19 trên toàn cầu, IFC sẽ tiếp tục tập trung khai thác năng lực của khu vực tư nhân để thúc đẩy quá trình hồi phục xanh, bền vững và bao trùm ở Đông Á - Thái Bình Dương”, bà Lim cho biết.

Theo bà Lim, cùng với Kế hoạch kành động về biến đổi khí hậu mới của Nhóm Ngân hàng Thế giới, một lộ trình thông minh về khí hậu sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu tạo việc làm và thịnh vượng chung trong khu vực. Tái thiết mạnh mẽ hơn là phương thức duy nhất để thúc đẩy phục hồi của khu vực sau khủng hoảng, đi kèm với việc ưu tiên năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng hiệu quả, đẩy mạnh trái phiếu xanh và trái phiếu bảo vệ đại dương, và thành phố thông minh.

Bà Lim là chuyên gia đầu tư toàn cầu với 26 năm kinh nghiệm và đã đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong triển khai và quản lý các khoản đầu tư vốn và nợ trên khắp Châu Phi, Châu Á, Đông Âu và Châu Mỹ Latinh. Bà là người kế nhiệm ông Vivek Pathak, khi ông đảm nhiệm vai trò mới là Giám đốc Toàn cầu về Hoạt động đầu tư khí hậu tại Washington, DC.

Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của khu vực trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, IFC đã thực hiện một loạt các giao dịch đáng chú ý trong năm tài chính vừa qua, bao gồm khoản đầu tư đầu tiên vào trái phiếu bảo vệ đại dương. Hơn nữa, IFC đóng vai trò tiên phong trong phát triển thị trường vốn để tài trợ cho bảo vệ đại dương, và hướng dẫn cho các doanh nghiệp có mục tiêu bảo vệ đại dương.

IFC đã thu xếp khoản vay bảo vệ đại dương trị giá 300 triệu USD cho Indorama Ventures, nhà sản xuất nhựa PET lớn nhất thế giới, để hỗ trợ các dự án tái chế chai nhựa PET; khoản vay xanh lên đến 143 triệu USD cho Asset World Corporation, doanh nghiệp lớn nhất trong ngành khách sạn - nhà hàng của Thái Lan, để tài trợ các dự án xanh mới và giảm lượng phát thải các-bon trong các khách sạn hiện tại của doanh nghiệp; và gói tài trợ 57 triệu USD để hỗ trợ phát triển hai dự án điện gió với tổng công suất 54,2MW cho Công ty Cổ phần Phong điện Thuận Bình tại Việt Nam.

“Bất chấp những thách thức do đại dịch gây ra, IFC tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khu vực tư nhân, huy động vốn dài hạn để xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tài chính xanh, bảo vệ đại dương, tăng cường tài chính xã hội và bền vững, thu hút đầu tư xuyên biên giới, và thúc đẩy tăng trưởng theo định hướng đổi mới để đẩy nhanh phục hồi ở Đông Á - Thái Bình Dương”, ông Alfonso Garcia Mora, Phó Chủ tịch IFC phụ trách khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho biết.

ĐP

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.200 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.950 23.190 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.939 23.199 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.730 22.940 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.950 23.160 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.960 23.160 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.980 23.200 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.934 23.185 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.990 23.190 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.010 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.750
61.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.750
61.450
Vàng SJC 5c
60.750
61.470
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.400
Vàng nữ trang 9999
51.400
52.100