Indonesia chi mạnh tay để thúc đẩy kinh tế

10:23 | 13/08/2020

Chính phủ Indonesia sẽ chi mạnh tay trong những tháng tới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh lần đầu tiên sau hơn hai thập kỷ, GDP rơi vào tăng trưởng âm.

101 tỷ USD để thúc đẩy phục hồi

Bộ trưởng Tài chính Sri Mulyani Indrawati mới đây cho biết, từ nay đến tháng 12, Chính phủ sẽ tăng mạnh chi tiêu, tổng cộng lên khoảng 1.476 nghìn tỷ rupiah (101 tỷ USD) để thúc đẩy phục hồi kinh tế. “Chúng tôi sẽ tăng tốc chi tiêu, chủ yếu cho các hoạt động bảo trợ xã hội và hỗ trợ các doanh nghiệp, và thúc đẩy các bộ và các tổ chức vào cuộc. Với tất cả các bước được triển khai, chúng tôi hy vọng sẽ giúp kích thích hoạt động kinh tế trong những tháng tới”, bà Indrawati nói.

Kinh tế Indonesia tăng trưởng -5,32% trong quý II vừa qua, mức tồi tệ nhất kể từ năm 1999. Trong bối cảnh tiêu dùng và đầu tư tư nhân đều yếu, các quan chức đang chuyển sang các biện pháp tài khóa để phục hồi tăng trưởng, cố gắng ngăn chặn nguy cơ nền kinh tế tăng trưởng âm trong năm 2020. Nhưng nếu không thành công như ý trong việc ngăn chặn đại dịch thì những nỗ lực để khôi phục các hoạt động kinh tế đầy đủ có thể sẽ không đạt được như kỳ vọng.

indonesia chi manh tay de thuc day kinh te
Indonesia chi tài khóa mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng đại dịch Covid-19 bùng phát tiếp tục là cản trở lớn

Dù Chính phủ Indonesia trước đó đã tung gói kích thích kinh tế trị giá gần 50 tỷ USD và NHTW đã cắt giảm lãi suất nhiều lần nhưng nền kinh tế vẫn đối diện nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh số ca nhiễm Covid-19 tiếp tục gia tăng. Cho tới lúc này, các số liệu chính thức cho thấy Chính phủ mới chi được chưa đến 25% trong số gần 50 tỷ USD gói kích thích tài khóa đã cam kết.

Trong một báo cáo mới đây, Joseph Incalcaterra, nhà kinh tế ASEAN của Tập đoàn HSBC nhận định: “Đảo ngược được quá trình chi tiêu chậm này là rất quan trọng để phục hồi tăng trưởng. Dù tăng trưởng kinh tế của Indonesia có thể không thu hẹp mạnh như một số nền kinh tế khác trong khu vực, nhưng vẫn rất cần các hỗ trợ chính sách để phục hồi mạnh hơn và có thể cần hỗ trợ trong một thời gian dài”. Báo cáo của HSBC dự báo GDP của Indonesia tiếp tục suy giảm ở mức 0,9% trong quý III này. “Trong khi chính sách tài khóa dự kiến sẽ giúp hỗ trợ mạnh trong ngắn hạn, thì các hỗ trợ từ chính sách tiền tệ cũng cần tiếp tục, với khả năng NHTW sẽ giảm lãi suất 0,5% vào cuối quý I/2021”, chuyên gia Incalcaterra nhận định.

Lo sợ làn sóng Covid thứ hai

Doanh số bán lẻ trong nền kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng này đã bị đánh gục vì đại dịch Covid-19. Trong khi đó chỉ số quản lý mua hàng mới nhất cũng cho thấy, ngành sản xuất tiếp tục khó khăn. Chỉ có các mặt hàng xuất khẩu như than đá và dầu cọ cho thấy một số cải thiện trong những tháng gần đây.

Chính phủ Indonesia đã nhiều lần phải hạ dự báo tăng trưởng năm nay và ở lần gần nhất, mức tăng trưởng GDP năm nay chỉ trong khoảng từ -0,4% đến +1%. Theo bản cập nhật báo cáo Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3 của Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) công bố tuần trước, nền kinh tế này dự báo có thể tăng trưởng ở mức -0,8% trong năm nay.

Các chuyên gia lo ngại về sự bùng phát của làn sóng Covid-19 thứ hai trên thế giới nói chung, Indonesia nói riêng càng khiến phục hồi tăng trưởng trở nên bất định. Theo Sung Eun Jung, chuyên gia kinh tế tại Oxford Economics, sự phục hồi của tiêu dùng tư nhân có thể sẽ dần diễn ra trong phần còn lại của năm nay. Tuy nhiên, việc thủ đô Jakarta và các vùng ngoại ô đang phải trì hoãn việc nới lỏng thêm các hạn chế đi lại (do gia tăng các ca nhiễm Covid-19 hiện nay) có thể là lực cản của sử phục hồi này.

“Trong bối cảnh Covid-19 tái bùng phát và hệ thống y tế đang quá tải, chúng tôi dự báo sự phục hồi sẽ diễn ra chậm và nhiều khả năng tăng trưởng nửa cuối 2020 vẫn ở mức âm trước khi dương trở lại vào năm 2021”, chuyên gia này cho biết. Tuy nhiên, mảng xuất khẩu có thể được hưởng lợi ở một mức độ nào đó từ nhu cầu nhập khẩu tăng trở lại của Trung Quốc.

Trong đối phó với đại dịch Covid-19, Indonesia không áp dụng đóng cửa trên toàn quốc như một số nước láng giềng và từ tháng 6 trở lại đây đã bắt đầu nới lỏng một số hạn chế đi lại. Tuy nhiên, số ca nhiễm Covid-19 được ghi nhận đã tăng gấp gần 4 lần kể từ đó tới nay, với tổng số ca nhiễm hiện khoảng trên 116 nghìn và số tử vong đã trên 5.400 ca, cao nhất khu vực Đông Nam Á.

Theo Capital Economics, nếu không triển khai các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn đại dịch, sẽ rất khó để Indonesia có thể phục hồi kinh tế hoàn toàn. Tổ chức này thậm chí dự báo GDP của Indonesia có thể ở mức âm 3% trong năm nay. “Sợ hãi mắc virus khiến mọi người sẽ không sẵn lòng tiếp tục cuộc sống bình thường như trước đây. Giãn cách xã hội sẽ cần phải kéo dài lâu hơn. Phản ứng chính sách của Indonesia hiện nay là chưa đủ”, chuyên gia kinh tế Shaw Gareth Leather của Capital Economics nhìn nhận.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250