Khảo sát toàn cầu của ACCA: Lo ngại môi trường kinh doanh đầy biến động và lạm phát

16:40 | 27/10/2022

Khảo sát cho thấy gần 3/4 số doanh nghiệp đang phải vật lộn với tình trạng gia tăng chi phí, với tỷ lệ phản hồi cao nhất dành cho các áp lực về chi phí tăng trong thập kỷ qua; và 1/3 lo ngại về tình trạng giảm thu nhập.

khao sat toan cau cua acca lo ngai moi truong kinh doanh day bien dong va lam phat
Ảnh minh họa

Theo Khảo sát Điều kiện Kinh tế toàn cầu (GECS) mới nhất do Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA) và Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA) thực hiện, niềm tin vào triển vọng kinh tế vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung vị ghi nhận suốt thập kỷ qua do những lo ngại về tình trạng lạm phát và sụt giảm hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam, niềm tin ghi nhận đang có sự phục hồi trong Quý 3 do những chính sách tiền tệ phù hợp.

Trên toàn cầu, khảo sát lần này cho thấy gần 3/4 số doanh nghiệp đang phải vật lộn với tình trạng gia tăng chi phí, với tỷ lệ phản hồi cao nhất dành cho các áp lực về chi phí tăng trong thập kỷ qua; và 1/3 lo ngại về tình trạng giảm thu nhập, tương ứng tỷ lệ phản ánh về biến động ngoại hối do sự hoài nghi và những dự cảm về suy thoái đang chi phối triển vọng kinh tế mới nhất.

Khảo sát cũng chỉ ra 2 diễn biến mới đang nhấn mạnh bản chất bấp bênh của môi trường thương mại. Đầu tiên phải kể tới sự gia tăng số đáp viên báo cáo về “những vấn đề trong việc đảm bảo thanh toán nhanh chóng”, ghi nhận ở mức cao nhất trong vòng 4 năm qua. Đây có thể là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự gia tăng số lượng các tổ chức có khả năng gặp khó về dòng tiền. Bên cạnh đó, khảo sát cũng phát hiện sự gia tăng đáng chú ý các báo cáo về “những vấn đề trong tiếp cận tài chính”, phản ánh chính sách thắt chặt tiền tệ ngặt nghèo nhất trong gần 40 năm qua có thể đã tác động tới tính thanh khoản của doanh nghiệp.

Các dữ liệu thể hiện niềm tin vào triển vọng kinh tế vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung vị ghi nhận suốt thập kỷ qua, trong khi 3 chỉ số khác liên quan mật thiết tới hoạt động kinh tế - bao gồm số đơn hàng mới, chi phí vốn và việc làm – cũng đều cho thấy sự suy giảm. Nhìn chung, các thông tin ghi nhận được phản ánh đúng thực trạng tăng trưởng toàn cầu chậm lại trong khoảng thời gian còn lại của năm, cùng với gia tăng áp lực lạm phát.

Điểm sáng chính sách tiền tệ

Tiến sỹ Josh Heniro, Giám đốc cấp cao của IMA, khu vực Đông Nam Ácho biết: “Quan ngại ngày càng lớn về gia tăng mức lãi suất trước nguy cơ lạm phát tăng cao và hệ quả của việc thắt chặt chính sách dẫn đến rủi ro làm chậm sự phát triển kinh tế toàn cầu so với mức kỳ vọng của các doanh nghiệp trong năm 2023”.

Nhận xét về triển vọng của khu vực Châu Á Thái Bình Dương, ông nói thêm: “Điểm sáng tại thị trường Châu Á Thái Bình Dương là chính sách tiền tệ vẫn được điều tiết thỏa đáng, giúp mức tăng lạm phát nằm trong giới hạn chấp nhận được so với các khu vực khác. Đó có thể là lý do tại sao chúng ta đang thấy sự phục hồi niềm tin trong số người tham gia khảo sát trên địa bàn."

Khảo sát cũng cho thấy sự phân hóa trong mức độ của niềm tin giữa các khu vực, khi các mức độ thấp ghi nhận tại Bắc Mỹ và Tây Âu tương phản sâu sắc với cái nhìn lạc quan ghi nhận tại Trung Đông và Nam Á.

Cụ thể, các phát hiện tại khu vực Bắc Mỹ minh họa tác động của gia tăng lạm phát và nền kinh tế thế giới. Sau khi giảm xuống mức thấp kỷ lục trong Quý 2, niềm tin của cộng đồng Bắc Mỹ phần nào phục hồi trong Quý 3, song vẫn là một trong hai mức thấp nhất từng ghi nhận trong lịch sử khảo sát. Đáng lo ngại hơn là các chỉ số đơn hàng mới, chi phí vốn và việc làm đều suy giảm nghiêm trọng trong quý này.

Ông Jamie Lyon, Trưởng ban Kỹ năng, Khối ngành và Công nghệ tại ACCAcho biết: “Khảo sát Điều kiện Kinh tế toàn cầu mới nhất của chúng tôi chỉ rõ những thách thức tới đây đối với nền kinh tế thế giới, phản chiếu đà sụp đổ kinh tế từ khi cuộc chiến Nga và Ukraine nổ ra, việc thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ ở các khu vực pháp lý then chốt, và cuộc khủng khoảng giá sinh hoạt. Một trong những rủi ro lớn nhất nằm ở việc các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ tới mức nào trong các tháng sắp tới nhằm chế ngự áp lực lạm phát, và liệu nền kinh tế toàn cầu có thể tăng trưởng chậm hơn cả mức kỳ vọng của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong năm 2023 hay không.”

Khảo sát GECS Quý 3 năm 2022 được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 2-14 tháng 9 năm 2022 với 905 ý kiến trả lời. GECS được xem là Khảo sát kinh tế thường niên lớn nhất lấy ý kiến đóng góp của các kế toán viên hoạt động trên khắp thế giới. Xem báo cáo tại đây

CK

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700