Kiểm soát chặt, nhưng không “đóng cửa”

09:13 | 07/06/2022

Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng song cơ quan điều hành chưa bao giờ ngơi nghỉ vấn đề tăng cường quản lý, đảm bảo chất lượng tín dụng, không hạ chuẩn tín dụng.

Tính đến 20/5/2022, tín dụng đạt trên 11 triệu tỷ đồng - tăng 7,66% so với cuối năm 2021. Đây là con số tích cực sau khi nền kinh tế bước qua giai đoạn khó khăn của dịch Covid-19, tập trung phục hồi. Ngay từ đầu năm 2022, tại Chỉ thị 01/CT-NHN cũng như trong các văn bản khác, NHNN luôn chỉ đạo, định hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Đến thời điểm hiện tại, cơ cấu tín dụng vẫn chú trọng tập trumg vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các ngành, lĩnh vực thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

kiem soat chat nhung khong dong cua
Ngân hàng kiểm soát chặt cho vay BĐS có tính chất đầu cơ

Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng song cơ quan điều hành chưa bao giờ ngơi nghỉ vấn đề tăng cường quản lý, đảm bảo chất lượng tín dụng, không hạ chuẩn tín dụng. Tại Hội nghị trực tuyến về công tác tín dụng và triển khai Thông tư 03/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú một lần nữa nhắc nhở và yêu cầu tới từng TCTD trong việc phải điều hành để tăng trưởng tín dụng an toàn, không đánh đổi lợi nhuận với rủi ro trong hoạt động của hệ thống. “Tinh thần trong chỉ đạo điều hành của NHNN nhiều năm qua vẫn là kiểm soát chặt chẽ trong cho vay vào những lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao như BĐS, chứng khoán, trái phiếu… Đơn cử như với BĐS, một số phân khúc BĐS nghỉ dưỡng, cao cấp, hay BĐS có tính chất đầu cơ… thì phải kiểm soát chặt, còn nhà ở cho công nhân, nhà ở xã hội, nhà ở cho người nghèo/thu nhập thấp, các nhu cầu tín dụng phục vụ tiêu dùng vẫn được khuyến khích”, lãnh đạo NHNN lưu ý.

Trên thực tế, trong giai đoạn vừa qua, các ngân hàng cũng đang thận trọng hơn trong cho vay lĩnh vực BĐS. Thậm chí từ tháng 3/2022, một số ngân hàng đã có thông báo tạm ngừng cho vay lĩnh vực BĐS. Nhưng với những phân khúc phục vụ nhu cầu nhà ở cho người dân, nhà ở xã hội, hay các dự án tốt… vẫn được các ngân hàng quan tâm. Như tại Sacombank, ngân hàng có sự điều chỉnh chính sách cho vay BĐS từng thời điểm. Hiện ngân hàng này ưu tiên cho vay đối với cán bộ, công nhân viên và người mua, xây, sửa BĐS để ở. Hay như Techcombank, dù hạn chế cho vay BĐS, nhưng với các khách hàng cũng như dự án tốt vẫn được ngân hàng tham gia tài trợ.

Tổng Giám đốc MB Lưu Trung Thái cũng thông tin, ngân hàng kiểm soát dư nợ cho vay BĐS mức dưới 10% và hiện nhu cầu vay mua nhà ở của cá nhân vẫn rất lớn và được ngân hàng đáp ứng…

TS. Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, hiện NHNN đang điều hành chính sách tiền tệ đối với lĩnh vực BĐS rất linh hoạt. Chưa có một văn bản nào chỉ đạo siết tín dụng BĐS, hay cũng chưa có một nội dung nào liên quan đến chỉ đạo đối với việc không cho vay lĩnh vực BĐS. Tuy nhiên, đối với những lĩnh vực rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh BĐS và chứng khoán, ngành Ngân hàng cũng có ban hành nhiều văn bản cảnh báo để kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào những lĩnh vực này.

Để tránh rủi ro và đảm bảo an toàn hoạt động, theo TS. Nguyễn Quốc Hùng, các TCTD cũng nên rà soát lại các hoạt động cho vay này. Bởi, trong trường hợp thị trường BĐS đóng băng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung, vì ngành này có liên quan đến rất nhiều ngành nghề trong đó có ngân hàng. Do vậy, ngân hàng nào thấy rằng việc đầu tư vào BĐS lớn rồi thì cần rà soát lại để điều chỉnh phù hợp với các quy định của pháp luật.

“Lĩnh vực chứng khoán, BĐS là có rủi ro nên cần thận trọng. Tuy nhiên không nên đặt vấn đề siết hay cấm cho vay, mà cần phải xem xét chia sẻ, đồng hành, hỗ trợ để không xảy ra tình trạng “sốt nóng, sốt lạnh”, hoặc là thị trường BĐS đóng băng. Bởi điều này sẽ không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp BĐS, mà còn tới các TCTD. Đây là vấn đề ngành Ngân hàng rất quan tâm và tôi mong muốn các TCTD chia sẻ, đồng hành với các doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp BĐS”, TS. Hùng chia sẻ quan điểm.

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, một chuyên gia tài chính nhìn nhận, việc ngân hàng “chặt tay” hơn trong cho vay lĩnh vực BĐS phần nhiều do đã gần cạn room tín dụng được cấp, nhưng không phải xảy ra ở số đông các ngân hàng. “Việc kiểm soát tín dụng BĐS từ phía cơ quan điều hành là cần thiết, để hạn chế các hoạt động đầu cơ, tăng cường tính minh bạch trên thị trường, giảm rủi ro trong bối cảnh nền kinh tế đang cần rất nhiều nguồn lực cho giai đoạn phục hồi hậu dịch. NHNN cũng đâu đánh đồng tất cả mọi dự án BĐS, với những dự án tốt, tính khả thi cao, phục vụ nhu cầu chính đáng của người dân thì các TCTD vẫn triển khai và đáp ứng được điều này”, chuyên gia này nêu quan điểm.

Minh Khôi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800