Lạm phát của Australia chạm mốc 7,3%, cao nhất trong vòng 32 năm

17:11 | 26/10/2022

Người đứng đầu bộ phận thống kê giá của Cơ quan Thống kê Australia (ABS), Michelle Marquardt, cho biết mức tăng lạm phát của quý III/2022 cao hơn 1,2% so với quý II/2022, nhưng phù hợp với các dự đoán đã được đưa ra trước đó.

lam phat cua australia cham moc 73 cao nhat trong vong 32 nam
Người dân mua hàng trong siêu thị tại Australia. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Lạm phát tại Australia trong quý III/2022 đã tăng lên 7,3% so với cùng kỳ, mức cao nhất kể từ năm 1990, cho thấy cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt tại quốc gia lớn nhất châu Đại dương đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn.

Dữ liệu do Cơ quan Thống kê Australia (ABS) công bố ngày 26/10 nêu rõ giá các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và giá năng lượng tăng vọt là nguyên nhân chính đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên nấc thang mới trong quý vừa qua. Cụ thể, giá thực phẩm và đồ uống không cồn tăng mạnh 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, giá xăng và nhiên liệu gia dụng tăng đột biến 10,9%.

Người đứng đầu bộ phận thống kê giá của ABS, Michelle Marquardt, cho biết mức tăng lạm phát của quý III/2022 cao hơn 1,2% so với quý II/2022, nhưng phù hợp với các dự đoán đã được đưa ra trước đó.

Bà Marquardt nói rằng giá cả đang tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn ba thập niên. Tuy nhiên, nhờ có sự vào cuộc kịp thời của các chính quyền địa phương, thông qua những gói trợ cấp năng lượng hiệu quả, gánh nặng về chi phí của các hộ gia đình phần nào được giảm bớt.

Trong quý III/2022, giá điện tăng trung bình 3,2% trên toàn quốc, được bù đắp bởi các chương trình trợ giá điện của chính quyền bang Tây Australia, Queensland và Canberra. Nếu loại trừ ảnh hưởng của các chương trình này, giá điện thực tế sẽ tăng 15,6% trong quý.

Mặc dù đã chạm ngưỡng kỷ lục của 32 năm, nhưng theo ABS, lạm phát của Australia hiện chưa đạt đỉnh. Cơ quan này ước tính lạm phát sẽ tăng lên ngưỡng 7,75% vào cuối quý IV/2022. Điều này tạo thêm áp lực cho Ngân hàng Trung ương Australia (RBA) trong việc điều hành chính sách tiền tệ.

Lạm phát cơ bản, sau khi đã loại bỏ các biến động bất thường của giá cả, hiện là 6,1%, cao hơn gấp đôi so với mục tiêu giữ ổn định lạm phát trong khoảng từ 2-3% của RBA, Do đó, có cơ sở để tin rằng RBA sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,5% vào kỳ họp tháng 11/2022.

Ngày 25/10, Chính phủ Australia đã công bố kế hoạch ngân sách 2022-2023, trong đó dự báo tăng trưởng tiền lương hàng năm chỉ đạt 3,75% trong vòng 10 tháng tới. Điều đó có nghĩa là tăng trưởng tiền lương thực tế, đo lường sức mua của người tiêu dùng, có khả năng giảm 2% hoặc hơn trong vòng sáu tháng tới.

Trước đó, Bộ trưởng Ngân khố Australia Jim Chalmers đã thông báo hạ dự báo tăng trưởng kinh tế quốc gia do lạm phát tăng, khiến tiêu dùng hộ gia đình giảm. Ông cho biết tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm tài khóa 2023-2024 sẽ chỉ còn 1,5% từ mức 2,5% trong dự báo hồi tháng Tư. Tăng trưởng GDP tài khóa 2022-2023 cũng được điều chỉnh từ 3,5% xuống còn 3,25%.

Theo Bộ trưởng Chalmers, việc điều chỉnh giảm tăng trưởng xuất phát từ sự sụt giảm trong chi tiêu tiêu dùng vì giá cả tăng cao và lãi suất tăng mạnh nhất trong nhiều thập kỷ. Ông cũng cảnh báo kinh tế toàn cầu suy giảm sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng tại Australia, dù tỷ lệ thất nghiệp của nước này đang ở mức thấp nhất kể từ năm 1970.

Nguồn: TTXVN

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700