Nâng chuẩn tạo vị thế cho doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng
![]() |
| Nhiều doanh nghiệp trong nước đã trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn quốc tế - Ảnh: chinhphu.vn |
Đã có bước chuyển quan trọng
Việt Nam có lợi thế đáng kể khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng và nền sản xuất ngày càng đa dạng. Các hiệp định như CPTPP, EVFTA, RCEP và nhiều FTA song phương đã mở thêm không gian thị trường cho hàng hóa Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong nước đã trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn quốc tế trong lĩnh vực điện tử, cơ khí chính xác, dệt may, da giày, nội thất, thực phẩm và logistics.
Đây là bước chuyển quan trọng, bởi tham gia chuỗi cung ứng không chỉ giúp doanh nghiệp tăng doanh thu xuất khẩu mà còn tạo điều kiện tiếp cận công nghệ, phương thức quản trị và tiêu chuẩn sản xuất hiện đại.
Đơn cử Công ty TNHH Cơ khí chính xác SMC Phú Mỹ đang là nhà cung ứng cấp I, đảm nhiệm sản xuất một số cụm linh kiện cho máy giặt Samsung. Để có được kết quả này, ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó Giám đốc phát triển kinh doanh Công ty TNHH Cơ khí chính xác SMC Phú Mỹ cho biết, doanh nghiệp đã chấp nhận đầu tư máy móc ban đầu lên tới 6 triệu USD, cùng với đó là đầu tư nhân lực, đáp ứng nhiều tiêu chí của Samsung ngay khi chưa có bất cứ hợp đồng đầu ra nào. Khi chia sẻ kế hoạch này, Samsung đã hỗ trợ SMC bằng cách cung cấp hồ sơ kỹ thuật, yêu cầu công nghệ, giới thiệu các nhà cung ứng thiết bị, đồng thời chia sẻ những quan điểm kỹ thuật cốt lõi.
Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng may mắn có cơ hội đó. TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoảng 5.000 doanh nghiệp chen chân được vào các chuỗi cung ứng. Phân cấp sâu hơn chỉ có hơn 300 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp I, II cho các tập đoàn đa quốc gia, và con số đạt đẳng cấp nhà cung ứng cấp I dừng lại ở mức khiêm tốn chỉ hơn 100 doanh nghiệp.
Nguyên nhân khiến các doanh nghiệp chưa thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chủ yếu do công nghệ và nhân lực đang là hai hạn chế lớn. Có tới 60-70% doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ ở mức trung bình hoặc đã lạc hậu. Thêm vào đó, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được chuẩn quốc tế. Đặc biệt, tư duy “tiết kiệm” không đúng chỗ khiến chi phí đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển) của Việt Nam hiện chưa tới 1% doanh thu, quá nhỏ bé so với mức 3-5% của các nước phát triển.
Nội tại chưa thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn, doanh nghiệp còn chịu thêm rủi ro về thị trường. TS. Lê Duy Bình dẫn chứng, chi phí logistics đang “ăn mòn” lợi nhuận doanh nghiệp. Song song đó, hệ thống pháp luật chồng chéo, chính sách hỗ trợ công nghiệp chưa đủ lực và các rào cản thủ tục hành chính (thuế, hải quan) vẫn đang làm khó doanh doanh nghiệp mỗi ngày.
Thách thức vẫn chưa dừng lại khi các nhà mua hàng quốc tế ngày càng quan tâm không chỉ đến sản phẩm cuối cùng mà còn đến toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm. Một đơn hàng có thể kéo theo hàng loạt yêu cầu về nguồn nguyên liệu, điều kiện lao động, mức tiêu thụ năng lượng, phát thải khí nhà kính, bao bì, chất thải và khả năng truy xuất nguồn gốc.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn: chinhphu.vn |
Nâng cấp năng lực nội và liên kết hệ sinh thái
Điều đó đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu chuyển từ tư duy “sản xuất để bán” sang “sản xuất theo tiêu chuẩn của chuỗi giá trị”. Muốn trở thành nhà cung ứng lâu dài, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực đáp ứng ổn định, chứ không chỉ đáp ứng một vài đơn hàng. Nhất là khi Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có khoảng 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
Bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư Vấn Thuế Việt Nam (VTCA) cho rằng, khi chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, chính sách thuế cần chuyển từ “thu hút đầu tư vào Việt Nam” sang “nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt Nam” để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Trước hết, cần tăng ưu đãi cho R&D, đổi mới công nghệ và tự động hóa. Doanh nghiệp đầu tư vào robot, AI, hệ thống sản xuất thông minh, thiết bị tiết kiệm năng lượng hoặc các công nghệ phục vụ trực tiếp sản xuất có thể được áp dụng cơ chế khấu hao nhanh hoặc các hình thức khuyến khích phù hợp. Đối với công nghiệp hỗ trợ, ưu đãi cũng cần chuyển từ việc chỉ căn cứ vào ngành nghề sang đánh giá năng lực thực tế của doanh nghiệp, như khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, cung ứng cho doanh nghiệp FDI và tham gia xuất khẩu.
Một hướng khác là xây dựng cơ chế kết nối dựa trên dữ liệu, phân loại doanh nghiệp Việt theo năng lực cung ứng, sản phẩm, công suất và tiêu chuẩn. Từ đó, cơ quan xúc tiến và các tập đoàn FDI có thể tìm kiếm nhà cung ứng phù hợp thay vì kết nối theo cách dàn trải. Muốn bước vào hệ sinh thái này, ông Bùi Trung Kiên, Giám đốc Kinh doanh Công ty CP Giải pháp tự động hóa ETEK cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải đầu tư vào tự động hóa, công nghệ để tối ưu hóa, cải tiến và tăng năng suất cho các quy trình sản xuất. Tuy nhiên, đầu tư tự động hóa đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi doanh nghiệp cần thời gian để đánh giá hiệu quả. Do đó, cần thêm các chương trình hỗ trợ đánh giá năng lực, tín dụng và nguồn vốn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp sản xuất có thể cùng tham gia những chương trình hỗ trợ ban đầu. Khi hiệu quả đầu tư được chứng minh, doanh nghiệp sẽ chủ động tiếp tục đầu tư bằng nguồn lực của mình.
Đặc biệt, vai trò dẫn dắt hỗ trợ từ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu chuỗi và khu vực FDI cũng sẽ tạo ra hiệu quả lớn cho quá trình này. Đơn cử, tới đây TP. Hồ Chí Minh dự kiến ký thỏa thuận hợp tác với từ 2-4 doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu chuỗi hoặc doanh nghiệp FDI trong năm 2026. Thông qua các thỏa thuận này, doanh nghiệp đầu chuỗi sẽ chia sẻ thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật và những yêu cầu cụ thể đối với nhà cung cấp. Thành phố đồng thời tổ chức các hội thảo chuyên ngành và chương trình kết nối giao thương B2B theo từng cụm ngành.
Cách tiếp cận này được kỳ vọng tạo ra sự kết nối trực tiếp hơn giữa "bên mua" và các nhà cung ứng tiềm năng, thay vì doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tự tìm hiểu nhu cầu hoặc tiêu chuẩn của từng tập đoàn, một chuyên gia khẳng định.
Tin liên quan
Tin khác
Xuất khẩu bước vào cuộc đua mới: Tuân thủ để mở cửa, thương hiệu để đi xa
Làm chủ công nghệ, nâng tầm sản phẩm Việt
Tận dụng FTA nâng cao sự hiện diện của hàng Việt tại Úc
Doanh nghiệp Hoa Kỳ muốn đầu tư nhà máy sản xuất máy bay điện tại Đà Nẵng
Doanh thu công nghiệp công nghệ số 9 tháng ước đạt hơn 5,38 triệu tỷ đồng
Gỡ 'nút thắt' để doanh nghiệp thủy sản nâng sức cạnh tranh
Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
Gỡ điểm nghẽn để thương mại hóa đổi mới sáng tạo
Tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên hải quan




